caroline thanh huong

caroline thanh huong
catbui

Libellés

lundi 7 août 2023

Chương trình đoc ̣ và nghe đọc truyện hay Cuồng Thám của tác giả Khóang Hải Vong Hồ.

Kính gửi quý anh chị một bộ truyện rất dài mà tôi nghe hay đọc không thấy chán. Truyện này thuộc thể loại trinh thám, hơi hoang đường khi có những hiện tượng hiện đại mà khó giải thích cho người bình dân thì cách trình bày hơi vòng vo, ma quái. Tuy vậy, nếu ai có chút kiến thức khoa học thì biết là tác giả chỉ noí khoác cho chuyện hoang đường cho vui. Cám ơn quý anh chị đã lưu lại truyện trên net và trên Youtube. Kính chúc quý anh chị có một vài tuần để nghe hay để đoc ̣ bộ truyện này. 

Caroline Thanh Hương 

tt 

Nghe đoc ̣ truyện Cuồng Thám tại đây

 

 

Cuồng Thám
Số Chương: 1622 chương
Lượt xem: 2,294,380
Trạng thái: Đang cập nhật
Chất lượng: Bản Dịch

Đánh giá: 7.9/10 từ 13 lượt

Nội dung truyện Cuồng Thám

nhấn vào đường dẫn bên trên này để đọc những chương kế tiếp

Câu chuyện kể về một tên vua lưu manh chỉ biết đánh nhau không màng sống chết chẳng may xuyên không đến một thế giới song song khác, xoay người biến thành nhân viên điều tra của Tổ Án. Thân phận biến đổi to lớn khiến hắn quậy cả Cục cảnh sát thành nơi “gà bay chó chạy”. Nhưng mà, có một hệ thống kỳ ngộ vô cùng "tà môn" nhiều lần giúp đỡ hắn phá được kỳ án, trở thành một Thần thám lừng danh!

Cuồng thám có thể coi là sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố trinh thám và yếu tố hài hước. Hai yếu tố vừa đủ nhuần nhuyễn đan xen tạo nên những câu chuyện dí dỏm, hấp dẫn khiến ngay cả độc giả không thích trinh thám cũng phải yêu thích.

Bên cạnh đó, truyện lột tả sự vất vả, khó khăn, cực khổ của nghề cảnh sát. Triệu Ngọc từ một chàng trai hùng hổ kêu ghét gớm, sau khi làm việc cùng tổ trọng án cũng phải thay đổi cái nhìn dành cho công việc này – vừa kính trọng vừa thương xót.

 

Editor: Nhóm Fulybook

— QUẢNG CÁO —

Danh sách chương

dimanche 6 août 2023

Anh Trần Văn Lương giới thiệu bài thơ tuyệt vời với sáu ngôn ngữ "L'Oiseau Ne Reviendra Pas" và nghe nhạc guitar không lời tuyệt cú mèo.

Kính gửi quý anh chị một bài thơ với sáu thứ tiếng của thi sĩ Trần Văn Lương.

Bài này anh đã gửi đến groupe Cát Bụi, Hương Xuân vào tháng tư năm nay, nhưng tôi đang gặp rất nhiều khó khăn về sức khỏe, nên không đưa bài của quý anh chị lên Blog thường xuyên như trước đây được.

 

 tt tt 

Người mình hay nói  “Sông có khúc, người có lúc”, vì vậy những trông ngóng về một đất nước tự do thoát khỏi gông cùm cộng sản sũng không chỉ là giấc mơ, nếu người dân trong và ngoài nước biết những gì họ muốn và thấy cần thiết cho cuộc đời của họ.

Đừng quên, lịch sử luôn có những cuộc đổi đời...

Năm nay, vừa cuối tháng ba, chính phủ pháp đã ra một đạo luật cấm không cho bất kỷ ai được cắt hàng rào, cưa cây, và nếu là những công ty trồng tỉa cây mà cố tình phạm luật sẽ bị phạt tiền và phạt tù luôn.

Lý do mà chính phủ đưa ra là việc chim chóc không còn đủ điều kiện sinh sản để duy trì nòi giống, dù là chim quý hay không.

Khi đọc bài thơ của anh Lương, tôi chợt nhận ra, khí hậu bây giờ không còn đúng mùa như xưa, mùa Xuân thì như tiết Thu.

Tháng năm mà trời không đủ ấm cho việc làm vườn nghiệp dư, cây non cũng không đươc ̣ đặt xuống đất ruộng, cho nên gười làm vườn cứ kêu trời.

Nếu có người không hài lòng thì cũng có người sung sướng khi còn đi làm mà không bị cái nóng oi bức trên ma mươi độ và hơn thế nữa.

  Vì thế những chú chim trong những câu thơ đau buồn này của anh Lương cũng có thể chỉ là chút trắc trở khi tìm về tổ ấm mà thôi.

"L'arbre, noyé dans le délire,

Bafouille à l'oiseau, criant tout bas.  

Mais nul n'a le cœur de lui dire

Que l'oiseau ne reviendra pas."

 

Cám ơn anh Lương và quý anh chị đã luôn gửi bài viết, thơ, nhạc và những sáng tác hay, quý mà anh chị  đã cho chúng ta thưởng thức.

Caroline Thanh Hương


 

Sắp tới Tháng Tư, kính gửi đến quý anh chị con cóc cuối tuần.

 

Dạo:

      Mai này lấy lại quê hương,

Cánh chim tỵ nạn tha phương có còn?

 

I. Cóc cuối tuần Phú Lang Sa:

 

 L'Oiseau Ne Reviendra Pas

 


Sous le soleil d'été qui grille,

Le pêcher exalte ses fleurs.

Sur ses branches, l'oiseau sautille,

Souffrant ni peine ni douleur.

 

Vient l'automne avec son ciel sombre,

Dépouillant l'arbre de ses fleurs.

L'oiseau, contemplant sa fade ombre,

Prévoit l'arrivée du malheur.

 

Déployant son linceul de glace, 
L'hiver ira tout engouffrer. 

L'oiseau, ressentant la menace,

S'échappe vite à l'étranger.

 

Menant la vie d'un réfugié,

Il pleure sa patrie sans cesse.

Dès que tout espoir est dénié,

Il périt, crevé de tristesse.

 

L'arbre, quand revient le printemps,

Commence donc sa longue attente.

Hélas, comme s'enfuit le temps,

Aucun bon bruit ne se présente.  

 

L'arbre, noyé dans le délire,

Bafouille à l'oiseau, criant tout bas.  

Mais nul n'a le cœur de lui dire

Que l'oiseau ne reviendra pas.

            Trần Văn Lương

               Cali, 3/2023


 

 

II. Phỏng dịch thơ Việt:

 

  Chim Kia Không Trở Lại


 


Hạ đốt trời cao rực lửa hồng,

Cội đào khoe sắc trổ đầy bông.

Trên cành, cánh nhạn thong dong nhảy,

Chẳng mảy may lo lắng bận lòng.

 

Mùa thu đến nhuộm xám khung trời,

Ngàn cánh hoa tàn lả tả rơi,

Cánh nhạn rối bời nhìn bóng ngã,

Thầm hay kiếp nạn đã gần nơi.

 

Băng giá mùa đông chóng ập sang,

Mảnh vườn bị phá nát tan hoang.

Bàng hoàng thấy trước trò oan nghiệt,

Liều chết chim di tản vội vàng.

 

Mang thân tỵ nạn ở quê người,

Nhớ đến làng xưa, lệ thảm rơi.

Hy vọng một thời nay đã mất,

Xót xa chim nhắm mắt lìa đời.

 

May mắn mùa Xuân trở lại nhà,

Cây già đứng ngóng bạn trời xa.

Ngày qua vùn vụt như tên bắn,

Bóng nhạn năm nao vẫn nhạt nhòa.

 

Cây đà sớm lú lẫn u mê,

Lảm nhảm cùng chim, khóc tỉ tê.

Chẳng có ai từ bi nhắn hộ,

Cánh chim xưa đó sẽ không về.

            Trần Văn Lương

               Cali, 3/2023

 

 

III. Phỏng dịch thơ Anh văn: (iambic pentameter)

 

  The Bird Will Not Return

 


The summer sun is shining cheerfully,
The peach tree proudly shows his flowering.
From branch to branch the bird is scampering,
Ignoring pain and sorrow heartily.
 
Comes autumn with its somber firmament,
Removing all the flowers from the tree. 
The bird, whose shadow is too fade to see,
Knows that the tragedy is imminent.
 
The icy winter curtain slowly falls,
Creating misery, distress and fear.
The bird, perceiving that the threat is near,
Decides to scale the prison iron walls.
 
Subsisting as a lowly refugee,
He mourns his motherland incessantly.
As soon as all hope crumbles painfully,
He sadly dies to finally be free.
 
When luckily returns the ancient spring,

The old tree starts his long and gloomy wait.

Alas, as time is speeding up its gait, 
Expected news is never happening. 
 
The tree, as his dementia takes its turn,
Talks madly to the bird with tears in tow.
But no one has the heart to let him know
That his old friend, the bird, will not return.

               Trần Văn Lương

                  Cali, 3/2023

 

 

IV. Phỏng dịch thơ Tây Ban Nha: (endecasílabos)

 

      El pájaro no volverá

 


Calienta el sol alegre de verano,

Exhibe el árbol sus hermosas flores.

Salta en las ramas el pájaro sano,

Sin conocer desdicha ni dolores.

 

Viene el otoño sombrío y molesto,

Al árbol de sus flores despojando.

Comprende el pájaro que algo es funesto

Cuando contempla su sombra, llorando.

 

Su manto atroz de hielo desplegando,

Este prado, el invierno va a arrasar.

El pájaro, el desastre adivinando,

Al extranjero decide a fugar.

 

Subsiste como un triste refugiado,

Llorando sin cesar su patria muerta.

Y cuando toda esperanza ha acabado,

La fin del pájaro ya ha sido cierta.

 

La primavera previa al fin regresa,

El árbol luego commenza a esperar.

Pero a medida que el tiempo progresa,

La nueva buena se niega a llegar.

 

El árbol, ahogado en su demencia,

Piensa que con el ave está charlando.

Nadie intenta decirle, por clemencia,

Que el ave nunca estará retornando.

                   Trần Văn Lương

                      Cali, 3/2023

 

 

V.  Phỏng dịch thơ Latin: (dactylic hexameter) (*)

 

     Avis Non Revertetur

 


Clarissimo lucet æstatis calidus sol, 
Persicus elate flores pulchros gloriatur.
In ejus ramis volucris cum gaudio saltat,
Cognoscens neque miserias neque aegrimonias.
 
Autumnus secum cœla atra tristiaque fert, 
Pulchris floribus ejus arborem acerbe denudans.
Volucris mæstam suam umbram in humo spectans,  
Praevidet adventum calamitæ prope esse.
 
Paulatim frigidum hiemis stragulum teget hortum,
Creans damnum, difficultatem et miseriam.
Cuando volucris periculum accedere credit,
Celeriter fugit in aliam regionem.
 

Confugæ tristem vitam portat patienter,

Incessanter perditam patriam delamentans.
Cum omnes spes certo et denique finiuntur, 
Perit, corde repleto lucto et aegrimonia.
 
In fine a Deo ver redigitur ad regionem,
Persici exspectatio longa hinc initiatur.
Autem cum dies inlætabiles cito evolant,
Auditur fragmentum nuntii boni nullum.
 
Cum omnino descendat in dementiam arbor, 
Ad volucrem loquitur, lacrimas supprimare conans.
Sed nemo habet audentiam dicere ei
Quod nunquam revertetur avis illa emigrans.

                        Trần Văn Lương

                          Cali, 3/2023

 

(*) Ghi chú:

    Phân nhịp (scan) ra các pieds (dactyl: D, spondee: S)

như sau:

 

Clārīs|sīmō| lūcēt| ǣstā|tīs călĭ|dūs sol,        SSSSDS

Pērsĭcŭs| ēlā|tē flō|rēs pūl|chrōs glŏrĭ|ātur.     DSSSDS

Īn ē|jūs rā|mīs vŏlŭ|crīs cūm| gāudĭŏ| sāltat,     SSDSDS

Cōgnōs|cēns nĕquĕ| mīsĕrĭ|ās nĕquĕ|ǣgrĭmŏ|nīs.   SDDDDS

 

Āutūm|nūs sē|cūm cœ̄|latrā| trīstĭă|quē fert,      SSSSDS

Pūlchrīs| flōrĭbŭs| ējūs| ārbŏremă|cērbĕ dĕ|nūdans.     SDSDDS

Vōlū|crīs mǣs|tām sŭăm|ūmbrām|īn hŭmŏ| spēctans,     SSDSDS

Prǣvĭdĕt| ādvēn|tūm cālā|mītǣ prŏ|pĕēsse.     DSSSDS

 

Pāulā|tīm frī|gīdumhĭĕ|mīs străgŭ|lūm tĕgĕt| hōrtum,      SSDDDS

Crēāns| dāmnūm|, dīffī|cūltā|temēt mĭsĕ|rīam.      SSSSDS

Cūān|dō  vŏlŭ|crīs pĕrĭ|cūlumāc|cēdĕrĕ| crēdit,     SDDSDS

Cēlē|rītēr| fūgīt| īn  ălĭ|ām rĕgĭ|ōnem.      SSSDDS

 

Cōnfū|gǣ  trīs|tēm vī|tām pōr|tāt pătĭ|ēnter,      SSSSDS

Īncēs|sāntēr| pērdī|tām  pătrĭ|ām dĕlă|mēntans.      SSSDDS

Cūmōm|nēs spēs| cērtoēt| dēnī|quē fĭnĭ|ūntur,      SSSSDS

Pērīt|, cōrdĕ rĕ|plētō| lūctŏĕt| ǣgrĭmŏ|nīa.       SDSDDS

 

Īn fīne|ā Dĕŏ| vēr rē|dīgĭtŭr| ād rĕgĭ|ōnem,       SDSDDS

Pērsī|ciēxspēc|tātĭŏ| lōngahīnc| īnĭtĭ|ātur.     SSDSDS

Āutēm| cūm dĭĕs| īnlǣ|tābī|lēs cĭtoĕ|vōlant,       SDSSDS

Āudī|tūr frāg|mēntūm| nūntī|ī bŏnĭ| nūllum.       SSSSDS

 

Cumōmnī|nō dēs|cēndāt| īn dē|mēntĭăm|ārbor,      SSSSDS

Ād vŏlŭ|crēm lŏquĭ|tūr, lăcrĭ|mās sūp|prīmărĕ| cōnans.      DDDSDS

Sēd nē|mōhăbĕt| āudēn|tīām| dīcĕrĕ|ēi          SDSSDS

Quōd nūn|quam rē|vērtē|tūr ăvĭs| īllăĕ|mīgrans.        SSSDDS

 

 

VI.  Phỏng dịch thơ Hán:

 
     

 


      ,
      .

,

      . 
 
      ,
      .
      影,
      .
 
      園,
      .
      .
      .
 
      生,
      .
      散,
      .
 
      歸,
      .
      過,
      .
 
      ,
      .
      ,
      .

            

 

 

Âm Hán Việt:

 

       Giá Điểu Bất Hồi

 


Thái dương thịnh hạ khảo cao không,

Thụ triển kỳ hoa, bạch dữ hồng.

Chi thượng tiểu quyên chung nhật vũ,

Bất kinh gian khổ, bất tri đông.

 

Thu đáo, đái lai ảm đạm thiên,

Bách hoa tận lạc, thị thùy khiên.

Điểu quan tha đích mô hồ ảnh,

Khoái thức bi thương tại diện tiền.

 

Đông lãnh mạc già cái quả viên,

Cấu thành vạn thống khổ truân chiên.

Nhãn tiền điểu kiến nguy cơ bức,

Nhất tức cập thời quốc ngoại thiên.

 

Nhẫn thụ nạn dân đích khổ sinh,

Khấp liên tổ quốc bất năng đình.

Như anh, hy vọng chung cùng tán,

Nhất đán, thê nhiên điểu nhập minh.

 

Hạnh hảo xuân quang cựu xứ quy,

Cô thân đẳng hữu, thụ kiên trì.

Hàm bi ai khán thời gian quá,

Tiêu tức tha phương, dã bất tri.

 

Thụ bản vi si chứng cửu tồi,

Chiêm đàm dữ điểu, giảo tàn hôi.

Một nhân hữu đảm bồi tha hiểu

Thiên điểu na niên vĩnh bất hồi.

           Trần Văn Lương

              Cali, 3/2023

 

Nghĩa:

 


         Chim Ấy Không Trở Về

Giữa hạ, vầng thái dương nướng nóng trời cao, 

Cây trưng bày hoa, trắng với đỏ.

Trên cành, con chim quyên nhỏ cả ngày nhảy múa,

Không trải qua gian khổ, không biết đến đau đớn.

 

(Nhưng) mùa thu đến mang theo bầu trời ảm đạm,

Trăm hoa rụng hết, lỗi tại ai.

(Chim) chợt nhìn thấy cái bóng mờ của mình,

(Bèn) chóng nhận biết nỗi buồn đau trước mặt.

 

Bức màn lạnh lẽo của mùa đông phủ kín vườn cây,

Gây nên vạn khốn khổ gian nan.

Con chim thấy nguy cơ ập đến trước mắt,

Tức khắc kịp thời di tản ra nước ngoài.

 

Kiên nhẫn chịu đựng gian khổ của đời tỵ nạn,

Khóc thương tổ quốc không thể ngừng.

Như bông tuyết, hy vọng cuối cùng tan biến,

Một ngày, con chim buồn bã đi vào cõi u minh.

 

May mắn ánh sáng mùa xuân lại về trên chốn cũ,

Cây kiên trì một mình (đứng) chờ bạn.

Ngậm buồn thương nhìn thời gian đi qua,

Tin tức từ phương xa, chẳng (nghe) biết gì cả.

 

Cây vốn bị bệnh mất trí tàn phá từ lâu,

Mê sảng nói chuyện với chim, (cùng) khuấy tro tàn.  

Không ai có can đản giúp nó biết được (rằng)

Con chim di cư năm ấy (sẽ) vĩnh viễn không trở về.