caroline thanh huong

caroline thanh huong
catbui

Libellés

Affichage des articles dont le libellé est nhạc Phạm Đức Nghĩa. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est nhạc Phạm Đức Nghĩa. Afficher tous les articles

dimanche 20 juin 2021

"Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét” "Một Thoáng Pleiku, đọc lại truyện của Phạm Tín An Ninh và nghe Phạm Đức Nghĩa hát

Kính mời quý anh chị đọc lại một bài của tác giả Phạm Tín Anh Ninh và nghe lại một bản nhạc xưa do anh phạm Đức Nghĩa trình bày.

 Cám ơn tất cả các tác giả đã đóng góp cho chương trình thơ văn của groupe chúng tôi.

Caroline thanh Hương

  tt

 

 





Một thoáng Pleiku


Phạm Tín An Ninh
Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ,  trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.
Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy,  giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.
Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiêt) và  đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt – Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.
Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum.  Bộ Tư Lênh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.
Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẩm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”.  Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?)  như ai.
Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.
Riêng tôi còn có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.
Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.
Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới.  Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân , để “may mà có em đời con dễ thương !”
Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13.3.75, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh.  Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.
Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề..mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)
Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét”, chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ – nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.
Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng ;
Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
….
cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:
Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó
….
Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như  cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời.  Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.
Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đã nằm lại nơi này. Võ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm, Đỗ Bê … những tiểu đoàn trưởng nổi danh,  những người anh, người bạn thân thiết như tình huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đã vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku.  Khi tất cả -có lẽ cũng như tôi-  chưa biết rõ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.
Tôi vẫn mãi đau đớn khi hình dung cuôc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa tháng 3. Cùng với những đổng đội của tôi, còn có biết bao nhiêu người Pleiku đã không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Định, những bông hoa dại đã làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố núi sẽ không còn đẹp, không còn lãng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Võ Ý vẫn mãi còn tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Đó”:
Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
 
mê cho lắm cho tay dài với mộng
 
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền
Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng

phố cũng xưa và tim thì đau nhói
 
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…”
Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô tình) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đã từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nhìn (trộm) các cô vô tư khoe mình bên các dòng suối biếc. Tuyệt vời!
Thuở ra đi, lòng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong lòng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.
Thì ra, tôi đã mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đã ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó,  nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.
Nợ ân tình thì không thể nào trả cho hết được. Đành viết mấy dòng này xin tạ lỗi Pleiku. •
Phạm Tín An Ninh

vendredi 25 décembre 2020

Lá Thư Giáng Sinh Năm 2020, tùy bút Caroline Thanh Hương, nhạc Phạm Đức Nghĩa.

tt

 

Lá Thư Giáng Sinh Năm 2020.

 

(Tùy bút Caroline Thanh Hương)

 

Mỗi năm, gia đình chúng ta thường gặp mặt, tụ họp đông nhất là vào mùa hè và lần quan trọng thứ hai không kém là mùa lễ Giáng Sinh.

 

Trong một không gian bất bình thường từ đầu năm hai nghìn hai mươi, liên tục những người dân nước pháp nói riêng và người dân toàn cầu nói chung đi đứng đều bị giới hạn, không là cách ly tự nhốt mình trong nhà, cấm ra đường trừ trường hợp bất đắc dĩ thì đến lệnh giới nghiêm, và phải làm giấy tự chứng nhận, sao mà giống giấy tự kiểm điểm sau năm bảy lăm tại Việt Nam.

 

Có một chế độ ly gián gia đình, không biết còn bao nhiêu anh chị nhớ lại cái thời mà miền bắc tràn vào Nam thì họ tìm cách cho con cái tách rời cha mẹ, cấm hối họp tôn giáo cấm đi chùa, đi nhà thờ ...

 Thế kỷ hai mươi mốt lại có một vũ khí mới giam con người thật hữu hiệu đó là con cúm Vũ Hán.

tt tt

Hình như ai cũng bàn về thế chiến thứ ba, mà không ai nghỉ rằng nó đã đến và toàn thế giới này cố tình làm ngơ và không nhận định được nước nào là thủ phạm và dám chỉ mặt đọc tên hay có dự án đòi bồi thường như nhiều quốc gia có luật ai gây tội thì phải đền tội.

 

Châu Âu những ngày cuối năm thật không bình thường vì sau khi có thuốc chích ngừa Cúm ra đời, thì một con khác lại hăm he ăn thịt người, ngay lúc gia đình sắp tập họp để thăm hỏi nhau sau một mùa hè xa vắng.

Có thể trong thời gian này, không nên làm người lớn tuổi, ở nhà dưỡng lão hay người mang nhiều bệnh già, người yếu đuối tâm thần hay hoang tưởng thì chúng ta có thể không bị lây nhiễm hão huyền.

Nếu những người may mắn còn việc làm, chưa biết còn việc được bao lâu và nạn đói chưa điểm tới thế giới, thì hình như ai nấy vẫn vô tư chờ một ngày mới mà không tự hỏi, tại sao chúng ta lại đang dần mất tự do một cách vô lý và thật mơ hồ chờ cái tin vui gì đó.

Mùa Noel năm na, lẽ ra, tôi phải chúc những lời vui vẻ, ăn mừng năm này sắp hết và chào mừng năm mới sắp đến thì tôi lại viết bài tuỳ bút không vui này gửi đến các anh chị.

Hy vọng trong tương lai gần nhất, người dân trong từng quốc gia sẽ hiểu và khám phá ra tại sao chúng ta bị mất quyền tự do, quyền làm việc một cách lương thiện nhất và không có gì quý hơn tình gia đình, tình yêu nước và quyền tự do tín ngưỡng,

Những bài vỡ, thơ, nhạc mà quý anh chị gửi đến, tôi vẫn chưa có giờ đưa vào Blog mà chỉ gửi đến quý anh chị những tin tức đến từ nước Mỹ, xin thành thực cáo lỗi và tôi đã lưu lại và sẽ làm Blog khi có thời gian.

Hôm nay đã là ngày sắp sửa mừng chúa giáng trần và đoàn tụ gia đình, tôi chỉ kịp chúc quý anh chị hãy cố gắng tự bảo vệ mình với những phương tiện mình có thể có được, như uống nước gừng, mật và chanh để tăng sự kháng thể.

tt tt

Để ngừa cảm lạnh, chu´ng ta cũng có thể mua cái máy xông mặt, sauna facial trộn một chút dầu nóng hay các laọi huile essentielle mua ở tiệm thuốc tây,

Với những phương pháp tầm thường đó, chúng ta có thể có những ngày lễ bình yên xum họp tại nhà với con cháu và cha mẹ.

Kính chúc quý anh chị thật nhiều may mắn và mạnh khỏe qua những ngày lễ cuối năm hai ngàn hai mươi.

Caroline Thanh Hương

24 tháng 12 năm 2020

tt tt

dimanche 8 novembre 2020

Caroline Thanh Hương giới thiệu chương trình thơ, nhạc với dòng thơ Trần Văn Lương, Huy Văn và nhạc Phạm Đức Nghĩa với bài thơ, Dài Tiếng Kinh Khuya, Em Cao Nguyên và Ảo Huyền.

tt

 Tại nước pháp, vào đằu tháng mười một năm hqi ngàn hai mươi lại bắt đầu vào cảnh cắm ra đường nếu không có lý do chính đáng khi bệnh Covid tàu tăng đột ngột bất bình thường.

Trong không khí cái chết rình rập mọi ngã đường, thì diển đàn chúng ta có những bài thơ, một chút nhớ nhớ thương thương về ngày xưa nào đó, có những mối tình chưa tỏ, chưa rõ nên nói hay hãy chờ đó đi nhé, rồi anh đây sẽ nói hay anh đây sẽ ôm nỗi niềm yêu đơn phương trong mấy chục năm về một người con gái không tên ở một nơi, có lẽ bây giờ cũng không còn tên.

Thế nhưng, người còn đó hay đã ra đi, ta còn đây hay sẽ ra đi, chuyện đó không quan trọng nữa, vì có ai thoát được số mệnh của mình.

Chuyện trước mắt là tôi còn nhớ về ngày xa xôi đó, về một người tình, mắt, môi, tóc , vóc đẹp như người trong tranh, trong trí nhớ vượt thời gian luôn đưa tôi về với em, người em "ảo huyền".

Kính mời quý anh chị thưởng thức hai dòng thơ trữ tình, tuyệt vọng, đau thương hay nhung nhớ về những người đã một lần ở trong tim những thi sĩ như anh Trần Văn Lương hay anh Huy Văn.


Thơ anh Trần Văn Lương với người em gái ở tuổi học trò, hai tà áo bay, chân guốc mộc...

"Nhớ vạt áo trắng dài lướt thướt, 

 Tóc huyền theo nhịp bước lung lay,

         Tiếng cười cưỡi gió nhẹ bay,

Khiến lòng trai trẻ ngất ngây bồi hồi. "

Thơ Trần Văn Lương

 

Hay người em gái Cao Nguyên của một người trai thời chiến tranh đã đi ngang vùng Cao và rồi thoáng một bóng hình đã gieo vào anh nỗi nhớ và, cũng như thi sĩ Trần Văn Lương cũng ngậm ngùi chưa tỏ bày và chưa định nghĩa được chữ Yêu.

 

Người con gái này, cũng đẹp huyền hoặc và dáng ai cũng lững lờ

 


"Chiều ra suối thấy Em ngồi giặt áo
Tóc huyền buông, vớ trắng, jupe xanh lơ
Cười thẹn thùng "...Em học trường bà Sơ
và mơ ước mai này thành cô giáo..."."
Thơ Huy Văn
 
Sau đây mời quý anh chị cùng thưởng thức bài Ảo Huyền, nhạc Phạm Mỹ Lộc do Phạm Đức Nghĩa trình bày.




Cám ơn anh Lương, anh Huy Văn và anh Phạm Đức Nghĩa đã gửi bài.

Kính chúc quý anh chị sức khỏe và bình yên may mắn.

Caroline Thanh Hương


Tiếng Guốc -- Phạm Thảo Nguyên

Kính gửi đến quý anh chị con cóc cuối tuần.

 

Dạo:

     Trong vùng bóng tối ăn năn,

Bơ vơ nỗi nhớ, nhọc nhằn lời kinh.

 

 

Cóc cuối tuần:

 

      Dài Tiếng Kinh Khuya

 

    Trăng ngốc nghếch dòm qua song cửa,

    Người co ro, bếp lửa lạnh tanh,

         Chim khuya ngái ngủ trên cành,

Vài con ma thức đành hanh nói cười.

 

    Cây mất lá rối bời than khóc,

    Sương lạc đường lóc cóc bên hiên.

         Vật vờ một nỗi oan khiên,

Đeo theo cuống lá triền miên lắm lời.

 

    Thầm cám cảnh cuộc đời ngắn ngủi,

    Nửa kiếp người lụi hụi vèo qua,

         Mới vừa ngắm trộm sắc hoa,

Tuổi xanh thoắt đã vút xa ngàn trùng.

 

    Em đâu đó, có cùng nỗi nhớ,

    Nhớ con đường của thuở ngây thơ,

         Nhớ xưa có gã trai khờ,

Sáng chiều lóng ngóng trông chờ bóng ai.

 

    Nhớ vạt áo trắng dài lướt thướt,

    Tóc huyền theo nhịp bước lung lay,

         Tiếng cười cưỡi gió nhẹ bay,

Khiến lòng trai trẻ ngất ngây bồi hồi.

 

    Thư nắn nót, viết rồi xé bỏ,

    Lời tình nào dám ngỏ cùng ai.

         Nắng chiều cướp lối sương mai,

Mảnh hồn thơ dại miệt mài nhớ nhung.

 

    Tim rộn rã hòa chung tiếng guốc,

    Khi gót hoa quen thuộc đến gần, 

         Ngu ngơ nét mặt đỏ rần,

Đôi tay líu quýu, đôi chân ngượng ngùng.

 

    Giờ tan học, mông lung chiều xuống,

    Mắt thẫn thờ luống cuống vời theo.

         Khối tình câm nín nặng đeo,

Đêm đêm thay ánh đèn treo đầu giường.

 

    Rồi cánh phượng ven đường rực đỏ,

    Niên học vừa mới đó đã xong.

         Sân trường buồn bã trống không,

Tiếng ve trong nắng bềnh bồng xót xa.

 

    Ba tháng hạ trườn qua quá chậm,

    Lòng nôn nao đếm nhẩm từng ngày,

         Tựu trường sao chẳng đến ngay,

Để cùng ai được tỏ bày đôi câu.

 

    Nhưng khi lớp bắt đầu khai giảng,

    Chẳng còn đâu bóng dáng người thơ.

         Luống công sáng đợi trưa chờ,

Bóng chim năm cũ mịt mờ chân mây.

                             x

                         x      x

    Thời gian cất cánh bay vùn vụt,

    Nhớ thương thầm chẳng phút nào ngơi.

         Giữa bao giông bão kiếp người,

Em nay có được một đời ấm êm?

 

    Anh chỉ muốn biết em hạnh phúc,

    Không hề mong có lúc gặp nhau,

          Cũng không mơ có ngày sau,

Tránh cho mình khỏi đớn đau tấc lòng.

 

    Chẳng dám dở lại dòng lưu bút,

    Sợ lửa sầu ngun ngút bùng lên.

         Muốn cầu khẩn đến Ơn Trên,

Nhưng câu kinh cũ trót quên mất lời!

 

    Đành lẩm bẩm nhìn trời khấn vái,

    Xin cho đừng gặp lại người xưa,

          Để trong ký ức dây dưa,

Đóa hoa năm cũ vẫn chưa héo tàn.

 

    Lời than vãn lan man tiếp nối,

    Càng nguyện cầu, tiếc nuối càng thêm.

         Sương khuya dai dẳng bên thềm,

Nhọc nhằn theo tiếng kinh đêm kéo dài.

                    Trần Văn Lương

                      Cali, 11/2020

 

 Lại thêm một cô gái trong trang phục dân tộc H'Mông xinh đẹp khiến dân mạng  kháo nhau: Phải lên ngay vùng cao tìm vợ

EM CAO NGUYÊN
 
Chiều ra suối thấy Em ngồi giặt áo
Tóc huyền buông, vớ trắng, jupe xanh lơ
Cười thẹn thùng "...Em học trường bà Sơ
và mơ ước mai này thành cô giáo...".

Vui như thể đã quen nhau một dạo
Thật ngẫu nhiên và cũng thật nên thơ
Tóc em bay như sương, suối lặng lờ
mềm mại đón ánh quang từ nắng ấm.

Chốn biên phòng có Em, trời xanh thắm
mát thêm dòng suối nhỏ, dáng mây soi
Ước chi ngày dài mãi núi rừng ơi
cho cơn mộng nở hoa lòng diễm tuyệt!

Tên Em là gì, sao không cho biết!?
để tôi gọi thầm khi vượt núi, qua mương
Có mắt Em làm phương giác mở đường
tôi sẽ nhớ lối an toàn về căn cứ.

Em cao nguyên, hoa lành trên đất dữ
Nụ cười duyên làm dịu lửa chiến tranh
Tóc ôm vai, sương nở hạt long lanh
cho cỏ ướt mềm theo chân em bước.

Gặp tình cờ như chim trời, cá nước
Mai Em đi, tôi cũng sẽ về xuôi
Đồi núi ơi! Xin giữ mãi nguồn vui
của đời lính biên phòng nơi mạn ngược.
HUY VĂN
( Pleimerong/ Căn cứ Lý Thế Lợi, Pleiku 12/11/1973 )

dimanche 21 juin 2020

Ác Thú, thơ Trần Văn Lương và bạn hữu.


Hôm nay đưa bài của anh Lương lên trang Blog, tôi chợt nhớ đến những mâu thuẩn xã hội gần nhất vừa xảy ra trên nước Mỹ và chỉ bao nhiêu bất bình đó mà máu đã chảy, nhà cửa bị đập phá, hôi của phát bùng lên.
Ai thấu hiểu chân thiện mỹ, sẽ hiểu ai là người có chính nghĩa, muốn cho xã hội nào tốt đẹp hơn thì những người làm ác phải bị trừng phạt theo đúng tội trạng của người đó.
Dân miền Nam Việt Nam, tại sao bị mất nước nếu họ không có những người theo nghe những thành phần mị dân, phát vẽ cho họ một đất nước Việt Nam không còn những bất công.
Cho đến một ngày, hơn bốn mươi năm sau, thì ai cũng đã rõ, bất công ngày hôm qua chỉ có một, còn ngày hôm nay thì sao?
Chỉ đọc thơ của anh Lương thôi nhé, chuyện còn lại, quý anh chị tự nhận xét và suy ngẫm lại xem những gì mình có hay không còn có những cái xấu của thời Việt Nam Cộng Hoà, so với những cái tốt của ngày hôm nay.
Cám ơn anh Lương và quý anh đã họa thơ với anh Lương.
Caroline Thanh Hương
Kính gửi quý anh chị con cóc cuối tuần.

Dạo:
     Hùm beo giết bởi nhu cầu,
Loài người giết bởi vì đâu hở Trời!


Cóc cuối tuần:

(Nhân biến cố George Floyd ở Minneapolis)

      
,
.
,
.
         


Âm Hán Việt:

      Ác Thú
Thi vị cái y khâm,
Nhai phường hóa hỏa lâm.
Hốt tri cầm thú tỉ,
Tối ác thị nhân tâm.
      Trần Văn Lương



Dịch nghĩa:

              Thú Dữ
Xác chết chưa (kịp) phủ áo khăn liệm,
Phố phường (đã) biến thành rừng lửa.
Chợt biết so với các loài cầm thú,
(Thì) độc ác nhất là lòng con người.


Phỏng dịch thơ:

        Thú Dữ
Xác chết vẫn còn phơi,
Lửa ngùn ngụt khắp nơi.
Trăm ngàn loài thú vật ,
Độc ác nhất con người.
       Trần Văn Lương
         Cali, 6/ 2020


Lời than của Phi Dã Thiền Sư:
      Hùm beo giết các con vật khác chỉ vì bản năng  hay nhu cầu sống còn. Chúng rất hiếm khi giết đồng loại. Nhưng con người bởi vì đâu mà hàng ngày luôn giết hại lẫn nhau?
     Mạnh tử với "nhân chi sơ tính bản thiện" và Tuân tử với "nhân chi sơ tính bản ác": ai đúng ai sai?
     Than ôi, phải chăng khi có cơ hội, con người có thể trở thành con thú độc ác nhất? Hãy nhìn Việt nam sau 1975!
      Hỡi ơi!

Thầy Lương thâm thúy nhất đời ! 
Đưa ra câu hỏi đến trời cũng im
Loài người, Mặt Sứa Gan Lim 
Kiếm câu giải đáp thầy tìm thấy chưa ? 
Thơ huynh đệ cứ dịch bừa :


Loài Thú Dữ 

Xác chết chưa nhập quan 
Khắp nơi lửa tràn lan 
So cùng mọi sinh vật 
Người độc ác hung tàn 

Dịch bừa đấy các anh chị ơi 

LTĐQB

Xác chết chưa (kịp) phủ áo khăn liệm,
Phố phường (đã) biến thành rừng lửa.
Chợt biết so với các loài cầm thú,
(Thì) độc ác nhất là lòng con người.

CỖ NGƯỜI ĐÃ DỌN, TỚ XIN XƠI. 😧

Xác chết chưa kịp phủ áo quan,
Phố phường đã biến thành bãi hoang,
So với bao nhiêu loài cầm-thú,
Con người độc-ác nhất thế-gian. 
LXC
 Gửi anh Lương con nhái con

ÁC THÚ

Xác chết chưa phủ khăn 
Bão lửa đã tràn lan 
So với loài cầm thú 
Lòng người độc hiểm hơn!

MÙI QUÝ BỒNG
(06/2020)


vendredi 1 mai 2020

Nguyễn Nhơn viết Vietnam War: Ai thắng ai thua? và bộ ảnh hiếm những sự kiện khó quên trên đường phố Sài Gòn.




Sài Gòn ngày ba mươi tháng tư năm 1975 với những hình ảnh khó quên.Cám ơn tác giả những tấm ảnh và người lưu lại trên net.
Caroline Thanh Hương

L’image contient peut-être : ciel, nuage, arbre et plein air
Sài Gòn ngày 30 tháng tư 1975

Hình ảnh Sài Gòn vào ngày 30 tháng tư 1975, những dấu tích còn lại sau cuộc di tản Operation Frequent Wind, trận đánh cuối cùng ở cổng Phi Long - Tân Sơn Nhứt, những võ khí vứt bỏ sau lịnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn ngày 30 tháng tư 1975, xa xa là đám cháy ở phi trường Tân Sơn Nhứt.





L’image contient peut-être : une personne ou plus, arbre, chaussures, vélo, ciel et plein air

 
Sài Gòn ngày 30 tháng tư 1975

Hình ảnh Sài Gòn vào ngày 30 tháng tư 1975, những dấu tích còn lại sau cuộc di tản Operation Frequent Wind, trận đánh cuối cùng ở cổng Phi Long - Tân Sơn Nhứt, những võ khí vứt bỏ sau lịnh đầu hàng của Dương Văn Minh.

L’image contient peut-être : 2 personnes, plein air Một chiếc máy bay quan sát Cessna O1 Bird Dog rơi trên đường trong cuộc di tản ra khỏi Sài Gòn ngày 29 tháng tư 1975.


L’image contient peut-être : 1 personne, arbre, chaussures et plein air



L’image contient peut-être : 2 personnes, chaussures, moto et plein air


L’image contient peut-être : 3 personnes, chaussures et plein air
 Một trực thăng UH-1 rơi trên đường Lý Thái Tổ trong cuộc di tản ra khỏi Sài Gòn ngày 29 tháng tư 1975.

L’image contient peut-être : une personne ou plus et plein air
 Một trực thăng UH-1 hư hỏng trên 1 nóc nhà đường Trương Minh Ký trong cuộc di tản ra khỏi Sài Gòn ngày 29 tháng tư 1975.

L’image contient peut-être : une personne ou plus, ciel, arbre et plein air


 Một xe tăng M-48 Patton bỏ rơi trên đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận.


L’image contient peut-être : plein air


 3 xe tăng T-54 và Type 59 bị bắn hạ bên cạnh cổng Phi Long - Tân Sơn Nhứt sáng ngày 30 tháng tư 1975.


L’image contient peut-être : plein air
 Photo: Pham Khac & Françoise Demulder/AFP, Jacques Pavlovsky/Sygma, Herve-Gloaguen & Jean-Claude LABBE/Gamma-Rapho.


Vietnam War: Ai thắng ai thua?

Nguyễn Nhơn


Sách có chữ:

“Được đất mà mất lòng người là thua
Mất đất mà được lòng người là thắng”
Ngày nay Chánh nghĩa Quốc gia VNCH
Sáng ngời ngọn cờ vàng khắp năm châu


Trích: “Phần trích được chiếu trong Tổng Lãnh sự Mỹ mở đầu bằng mái đầu bạc của Bảo Ninh với một câu nhận định hùng hồn: Chiến tranh không ai thắng hay thua hết. Những ông không bao giờ đánh nhau mới bàn luận ai thắng thua.”… Và tiếp sau đó, là những câu chuyện mở ra từ những cánh cửa tinh thần đóng chặt lại sau hàng chục năm dài tham chiến. Bảo Ninh thú nhận khi ông trở về nhà sau trận mạc, mẹ ông im lặng không dám vui mừng vì chợt nhớ ra người hàng xóm cũng có đứa con trai đi bộ đội - và bên ấy chưa có người về.
(Vietnam War: 'Cuộc chiến day dứt tất cả chúng tôi' Khải Đơn Gửi tới BBC từ Tp HCM)

Chỉ gần dây thôi, Huy Đức viết sách (phe ta) “Bên Thắng Cuộc”.

Mới mươi bửa trước đây thôi, sau khi cho ông viết sử nhấp thử dzụ thôi gọi “ngụy quân - ngụy quyền” thay bằng “Quân đội Sài Gòn - Chính quyền Sài Gòn” vừa chưa ráo mực, bọn trùm việt cọng giựt mình ra lịnh cho đám tuyên giáo xúm nhau la làng: đảng ta “đánh cho Mỹ cút - ngụy nhào” chiến thắng dzinh quang, hổng có VNCH gì hết trơn. (Mạc dầu hiện tại chạy tới chạy lui chầu chực Mỹ tìm cách né đòn chệt. Mặc dầu vẫn cứ tỉ tê “Khúc ruột ngoài ngàn dặm” để câu mỗi năm trên 10 tỉ đô).

Trước 1975, chiêu bài đuổi Mỹ giành độc lập, thống nhứt quốc gia còn xu mị được những tên trí thức u mê và bọn hèn nhát phản chiến thiên cọng.

Từ ngày “các bác dzô đây”, cửa nhà không cánh mà bay. Bà mất vì nhớ thương ông ngoại (tù đày “cải tạo”). Mẹ mất vì bạo bệnh. Chỉ còn thân cháu đây. Tuổi 16 thân thể trơ gầy mà cũng đem bán. Đong gạo được mỗi ngày khoảng một tô!

Từ bấy đến nay, 42 năm đã trôi qua
Ai thắng ai
Ai ngay ai gian
Ai giải phóng ai
Ai cướp giựt ai
Ai phản nước hại dân
Ai là Chành nghĩa Quốc gia
Ai Duy vật Tà ác Vô nhơn
Người dân Việt đều rõ biết
Sách có chữ:
“Được đất mà mất lòng người là thua
Mất đất mà được lòng người là thắng”
Ngày nay Chánh nghĩa Quốc gia VNCH
Sáng ngời ngọn cờ vàng khắp năm châu
Trên 70 nước có cộng đồng người Việt
Tỵ nạn việt cong vô thần vô Tổ quồc
Trong nước, bất chấp tù đày
tuổi trẻ ngạo nghễ phô trương
Ngọn cờ vàng truyền thống Dân tộc Việt
Rồi đây, chuyện Chánh nghĩa thắng gian tà
Một lần nữa được dân Việt xác quyết


AI THẮNG AI?

LỜI DẪN: Từ ngày Trung cộng công khai hóa cái “Công hàm bán nước” của bè lũ Hồ – Đồng, dư luận trong nước trải qua một bước ngoặc quyết định. Xác định một lần cho tất cả: Ai bán nước mới là “Ngụy”, mới là “Phản động”. Vậy, Đảng cộng sản VN, gọi khinh thị là Việt cộng hay tệ hơn nữa là “Đảng Cướp Sạch VC” là lũ bán nước cầu vinh ĐÍCH THỊ LÀ NGỤY, LÀ PHẢN ĐỘNG.

Như vậy, từ đây Chánh _ Tà, Ngay – Gian phân biệt rạch ròi.

Riêng phần Quân-Dân-Cán-Chánh VNCH đã từ lâu, dẫu lâm thân vào cảnh tù đày gian khổ, vẫn một dạ sắt son, vững tin vào Đại nghĩa Dân tộc: Gặp lúc vận nước suy vi, lũ cường quyền lẫy lừng áp bức. Nhưng “ Càn khôn hết bỉ rồi lại thái”, vận nước quyết có ngày hưng thịnh.

Gặp lúc thắng thế lẫy lừng, bọn tà quyền VC huênh hoang, khoác lác câu thiệu của tổ sư Cộng sản Đệ Tam Quốc tế của chúng: Giai cấp vô sản là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản.

Chúng thường kênh kiệu hỏi kháy những người tù Miền Nam: Ai thắng ai?
Giờ đây, câu trả lời ngày càng sáng tỏ.

Trong chốn lao tù, lòng vẫn đinh ninh:
“Đem Đại nghĩa để thắng Hung tàn, lấy Chí nhân mà thay Cường bạo”

AI THẮNG AI?

BÀI HỌC VIỆT NAM NĂM 1975

Chuyện kể đã lâu giữa vài anh em thân thiết trong trại tù C.S. ngoài núi rừng Việt Bắc. Hồiđó cứ năm, mười bữa, nửa tháng, họ buộc anh em chúng tôi viết kiểm thảo, nhục mạ cả tam, tứ đại nhà mình, lại còn ra rả khoe “Bài học VN lớn lắm”, “Ta thắng Mỹ toàn diện”… Anh em uất lắm mà nghĩ thân tù tội đành cam chịu. Riêng tôi cố tìm lập luận phản bác, vừa “móc lò” họ chơi (dĩ nhiên chỉ thì thầm giữa mấy anh em thân thiết) vừa tự an ủi mình, vừa cổ động anh em đở nản chí.

Trong hoàn cảnh trên, trong tay chỉ có mấy tờ lá cải (mà cũng cũ lắm) thông tin một chiều, toàn tin chiến thắng. Tuy vậy nó cũng được việc, nếu cứtheo đúng câu cửa miệng của đồng bào ta hiện nay “Nói vậy mà không phải vậy” mà suy luận là được.

Vậy thì, ta nói:

1/ “Mỹ thắng Cộng sản toàn diện”

Về phương diện kỹ thuật: Chỉ nói riêng về pháo đài bay B52 thôi cũng thấy rõ “Không lực Mỹ thật sự đưa Bắc Việt trở về thời đồ đá”(nhắc lại câu nói của tướng tham mưu trưởng Không lực Mỹ lúc ấy). Khi VC giải nhóm anh em tôi ra Bắc vào cuối năm 76, nhà máy xi măng Hải Phòng vẫn còn là một đống hỗn độn. Suốt dọc đường giải đi qua các làng mạc (HTX nông nghiệp) kể cả các vùng hẻo lánh tận biên giới ở Lào Cai, nơi nào cũng có một trái bom Mỹ cắt ra làm kẻng báo (cần nhớ là hàng ngàn quả bom mới có một quả lép).
Anh em chúng tôi tự sản xuất cuốc, xẻng, lưỡi cày để dùng, tốt hơn dụng cụ của đồng bào ngoài đó. Nhiều cày cuốc chỉ còn bằng bàn tay vẫnđược tiếp tục xử dụng.

Điều chua chát và đau khổ của VC mà càng ngày họ càng thấm thía là bị thiệt người, hại của như vậy mà không được Mỹ bồi thường cho cắc nào, dù dưới hình thức “viện trợ tái thiết”.

Chỉ cần 1 líp B52 rải thảm thôi, VC đã bị chận đứng trước cửa ngõ An Lộc (Bình Long). Nguyên một Trung đoàn tùng thiết đến trễ, bị xoá sổ kể cả BCH. Nếu có đủ tài liệu còn có thể kể về nhiều loại vũ khí khác.
Về phương diện chiến thuật: Cho đến 1964 thì chiến thuật du kích của VC phá sản, buộc VC phải đưa bộ đội chính quy vào Nam với vỏ bọc”bộ đội giải phóng” (sách báo VC viết về sau nầy). Nhưng bộ đội CS với chiến thuật “biển người”cũng bị quân lực Mỹ đánh bại. 6,000 Thủy quân Lục chiến Mỹ (1) phá vỡ vòng vây của 3 Sư đoàn VC rút lui an toàn khỏi Khe Sanh. Tóm lại 2 mũi nhọn của “chiến tranh nhân dân” đều bị bẻ gẫy.

Tới đây chắc có vị sẽ tức mình mắng rằng: Cái thằng cha nước mất nhà tan, thân bại danh liệt mà còn phét lác. Vậy xin khoan nóng vội, kiên nhẫn đọc tiếp xuống xem sao.

Về phương diện chiến lược: (câu chuyện khởi đầu trong trại tù, càng về sau thời cuộc càng thêm yếu tố nên viết luôn một mạch cho khỏi ngắt quãng).

Đến nay, tôi dám khẳng định:

Cuộc rút lui năm 75 của Hoa Kỳ là cuộc rút lui chiến lược.”
Cuộc di tản của quân dân chính VNCH năm 75 là cuộc di tản phối hợp”.

Đọc 2 câu có vẻ câu đối kể trên chắc có vị phì cười cho tôi, nếu không khùng thì quá lếu láo. Tuy nhiên, nếu sau khi cười xong quý vị ngẫm nghĩ, nhớ lại các sự kiện kể sau, chắc có điều suy nghĩ:

Sau khi ký xong Hiệp định Paris, Kissinger tuyên bố: Chúng ta có khoảng thời gian vừa đủ” (chừng hơn 2 năm) để nghỉ ngơi. (Theo tôi là thời gian chuẩn bị rút bỏ miền Nam).

Khi VC sắp tràn vào Saigon, Quốc hội Mỹ chuẩn y ngân khoản khẩn cấp nhằm di tản khoảng 200,000 người (tất nhiên là quân chính và gia đình) với ngân khoản 150 triệu Mỹ kim.

Cuộc rút lui đã dự liệu trước hơn 2 năm trời mà không gọi là “chiến lược” thì gọi là gì?

Cuộc di tản chẳng những được cho phép mà còn được cấp ngân khoản thực hiện, đâu có thể là vô tổ chức, mà là có phối hợp, mặc dầu cập rập vì chiến sự. Hồi trong tù, một số anh em tiểu đoàn trưởng miền Tây (QK4) vẫn ấm ức về nỗi trong tay còn đủquân số vũ khí mà phải đầu hàng. Có người còn nói văn vẻ: Chúng ta thua trận từ Hoa Thịnh Đốn. Câu nầy vừa đúng, vừa không đúng. Đúng là đúng về phiá VNCH lúc ấy. Còn không đúng nếu đứng về phía Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ lúc ấy, bên trong bị dân chúng phảnđối, bên ngoài thì Anh, Pháp bằng mặt mà chẳng bằng lòng, các nước Bắc Âu chỉ trích. Do đó, họ không thể không rút bỏ miền Nam. Huống chi khi rút bỏ miền Nam, Mỹcòn nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược lâu dài.

Đối nội: Mỹ chứng minh được cho dân chúng hậu quả rút bỏ miền Nam là Mỹ sẽ mất uy tín quốc tế, thiệt hại giao thương (có bài báo đăng: Chính quyền Carter chỉ tính thiệt hại trong mấy năm sau 75 mà lên tới 35 tỷ đô la). Nhân dân Mỹ ngày nay cũng biết rõ VC độc tài tàn bạo, bần cùng hoá nhân dân đến mức nào. Đến nỗi mấy chị cỡ Jane Fonda cũng hết đường múa mép.

Đối ngoại: Mỹ đạt được vị trí “nhứt hô bá ứng” ngày nay là nhờ rút bỏ miền Nam. Không cần biện luận dài dòng, chỉ cần lược qua các sự kiện thì thấy ngày càng rõ chiến lược Mỹ.

Năm 76 Mỹ phủ quyết đơn xin gia nhập LHQ của VC vì lý do không hội đủ điều kiện nhân quyền. Mấy năm sau thì Brezinski chánh thức phát động chiến dịch nhân quyền trên toàn thế giới. Cùng lúc đó Mỹ cài thế sao đó mà năm 79 VC buộc phải tràn vào Campuchia (vì không thể đánh dằng dai mãi ở biên giới VN). Bên nầy, Nga Sô đem Hồng Quân tràn qua Afghanistan. Trong lúc người ta đang hô hào nhân quyền mà 2 anh “cả đỏ”lờ khờ, đem quân xâm lăng ngay 2 nước láng giềng thì có khổ không! Hai vụ nầy đem lại nhiều hậu quả lắm, mà toàn lợi cho Mỹ thôi.

Phía Đông Nam Á, Thái Lan bỗng dưng thấy mình đang ở mặt trận tiền tiêu. Thái Lan mà lại rơi vào tay VC thì thuyết Domino liền được chứng minh. Hoá cho nên ông Ăng Lê rét lắm vì không khéo khối Common Wealth lại phải tự mình đương đầu với CS (Mỹ rút rồi còn đâu!) mà 2 ông Singapore và Mã Lai vừa bé, vừa chỉ biết làm ăn đâu biết đánh giặc. Vậy cho nên bà Thatcher phải ráng chạy qua Thái chõ loa vào VN ca bài nhân quyền vậy. Pháp lúc nầy cũng rét, nên hết chê cái dù nguyên tử Mỹ. Tổng thống D’Estaing cũng chịu khó qua Đông Kinh, nhìn về phiá Tàu, VN kêu gào nhân quyền.

Tóm lại, sau sự kiện 2 nước đầu đàn khối CS xâm lăng 2 nước láng giềng, thì các nước đồng minh với Mỹ hết còn phá bĩnh, mà tự ý xếp hàng sau lưng Hoa Kỳ. Các nước Bắc Âu thôi chỉ trích Mỹ.

Về phương diện kinh tế: Bài học nầy lý thú hơn cả. Nó cho thấy cái “thâm” của người Mỹ. Họ dùng thuật “gậy ông đập lưng ông”hay hơn cả người Á Đông. Hoa Kỳ với tiềm năng kinh tếvào bậc nhất như vậy mà chỉ chịu đựng được có 4-5 năm gánh nặng tiếp vận cho khoảng 500 ngàn quân chiếnđấu ở VN. Từ năm 69 đã bắt đầu rút quân rồi, màđến 73 cũng vẫn bị suy thoái kinh tế.
Kinh nghiệm như vậy nên họ nhử cho Nga và CSVN được đằng chân (Miền Nam) lấn đàng đầu xua quân tràn qua Campuchia và Afghanistan.

Cho dầu lính CS được cho ăn đói mặc ráchđi nữa (tức phần tiếp vận về quân nhu nhẹ nhàng) chi phí về xăng dầu, súng đạn vẫn nặng. Cho nên trong vòng 10 năm, gánh nặng chiến phí cho đoàn quân viễn chinh tại 2 nơi trên, đánh sập tiềm năng kinh tế mỏng manh của Nga Sô là dễ hiểu.

Có thực mới vực được đạo, kinh tế mà vỡ rồi, không bao biện được cho đàn em, tất nhiên khối CS Đông Âu rã bè.

2/ “Năm 75, Quân dân miền Nam bắt đầu chiến thắng VC từ căn bản.”
Bắt chước bài học lịch sử “Quang Trung Tam Tiến Bắc Hà”, thử diễn lại bài học năm 75 “Quân dân Miền Nam tam tiến Bắc Hà” xem sao.

Nhất tiến: Phá tan lời tuyên truyền Miền Nam nghèo đói, nhân dân bị áp bức, trong hàng cán binh VC.

Trước khi xua quân vào Nam, bọn cầm đầu CSBV nhồi nhét cho cán binh ý tưởng Miền Nam bị Mỹ bóc lột, áp bức nên nghèo đói, oán hận. Khi cán binh VC tràn vào Sài Gòn, bất ngờ loá mắt trước sự giàu có của nhân dân thủ đô miền Nam. (Rất nhiều giai thoại về sựngờ nghệch của cán binh VC về các tiện nghi của dân chúng Sài Gòn). Họ trực nhận ra đã bị cấp trên lừa dối trơ trẽn, đến nỗi sau nầy trở về Bắc, coi tù cải tạo, có anh bộ đội người sắc tộc đã nói văn vẻ như thế nầy (tất nhiên là nói lén với vài anh em tù thôi): “Các anh có cái ‘thiên đường’ của mình mà không biết giữ, để đánh mất rồi!”

Nhị tiến: Đánh tan lời phao truyền trong nhân dân miền Bắc về tính hung dữvà thất học của quân chính VNCH.

Trước khi giải hàng trăm ngàn quân chính miền Nam đi đày ngoài Việt Bắc, để tránh việc đồng bào miền Bắc thắc mắc về việc tù đày lũ lượt nhưvậy, bọn công an CS loan truyền là bọn “ngụy” này thất học và hung dữ (chuyên mổ ruột moi gan nhân dân miền Nam) nên khuyên đồng bào tránh xa. Cùng lúc họ phao truyền trong Nam là đồng bào ngoài Bắc oán ghét “bọn Ngụy” đến nỗi có người phẫn uất ném đá vào họ.

Sư thật như vầy: Lúc đầu, đồng bào vì bị dọa dẫm không dám đến gần anh em tù, chỉ đứng xa xa nhìn. Về sau nghe con em của họ cùng ở tù với anh em miền Nam (họ gọi là tù nhân ngoài Bắc là tù hình sự, trên 80% là thanh niên phản kháng không chịu nô dịch trong các HTX nông nghiệp hoặc xí nghiệp nhà nước) thuật lại là các bác các chú miền Nam, học cũng giỏi (ngoại ngữ, báo tường gì các chú cũng làm được) mà làm lụng gì cũng giỏi (trồng trọt tốt, làm mộc làm rèn cũng được) lại thêm hiền lành, sẵn lòng giúp đỡ các em, cháu hình sự. Về sau, chúng tôi “lao động” trong xóm cũng được đồng bào thương mến, tiếc rằng đồng bào ngoài ấy còn nghèo đói hơn “tù cải tạo” nữa, nên không làm thế nào giúp đỡ vật chất được.

Tam tiến: Xác minh và thuyết phục nhân dân miền Bắc về “một Miền Nam Tự Do phồn vinh”.

Khi nghe con em cán binh vào Sài Gòn về thuật lại sự phồn vinh của miền Nam thì đồng bào miền Bắc còn nửa tin, nửa ngờ. Kịp đến khi vợ con tù cải tạo được phép ồ ạt ra Bắc thăm nuôi chồng cha thì sự thật phô trước mắt không còn nghi ngờ gì nữa. Đồng bào ngoài ấy biết rằng chúng ta đã bị cướp mất tài sản rồi. Thế mà những gì còn sót lại được gom góp để đi nuôi chồng cha cũng đủ cho đồng bào miền Bắc loá mắt. Hàng trăm ký quà thuộc loại “cao cấp”, người lớn đeo đồng hồ “một cửa sổ, hai cửa sổ”chẳng nói làm chi, đến trẻ em cũng có và…v.v chưa kể tính chi phí từ trong Nam ra tới trại, trả đủ thứ tiền từ tàu hỏa đến tiền thuê xe trâu không biết là bao nhiêu. Ngoảnh lại cảnh mình, đồng bào đâm ra ngán ngẩm: nghèo đói, xác xơ! Đến nỗi ngay từ năm 79, có lần đội tôi được phái đi quét dọn khu chợ phiên trong xã, có dịp nghe đồng bào than thở hầu như công khai (Tôi điếc mà còn nghe được, tất nhiên bọn công an áp giải phải nghe được): “Đảng và nhà nước làm thế nào mà chỉ một mẹt hàng (lèo tèo 1 nhúm kẹo bột, bánh khảo và thuốc điếu cuốn sẵn) tí tẹo như thế nầy từ sáng đến giờ chưa bán được hào nào.”

Thậm chí có lần đồng bào thách thức ngay cả công an trại tù. Chị công an ỷ mình, chất vấn bà bán hàng tại sao trứng vịt HTX bán 5 hào một quả, ở đây bán tới 1 đồng. Bà hàng: “Đây là chợ phiên…Muốn kiện bất cứ ở đâu, tôi cũng sẵn sàng đi hầu.”

Thật ra hồi ở tù, tôi trộ anh em về “Tam tiến” như vầy:

Nhất tiến: Cán binh VC vào Sài Gòn
Nhị tiến: Tù cải tạo ra Bắc
Tam tiến: Vợ con tù cải tạo ra Bắc

Vừa nghe vậy anh em la tôi “đồ khùng”.Kế nghe tôi diễn nôm đại khái như trên, anh em khen: “Tưởng thằng khùng thiệt, hoá khùng chơi.”

Anh em CSV/QGHC bạn ta,

Tôi mới qua đây, tạm ra mắt anh em bằng bài văn biền ngẫu lỡ như trên. Tuy vậy cũng có chút dụng ý. Khi tôi tặng các bạn (trong đó có tôi dĩ nhiên, vì cũ mới gì cũng đều là di tản) “mỹ tự” “di tản phối hợp” là có ý muốn nhắc nhở anh em mình vềnhiệm vụ “phối hợp” với Hoa Kỳ và Tây phương trước tình hình tan rã của khối CS hiện nay.

Hoa Kỳ và Tây phương đã phối hợp làm tan rã khối CS Đông Âu và hiện nay đang tiếp tục dùng chánh trị ngoại giao và áp lực kinh tế đánh tan đảng CS trong mỗi nước.

Vậy thì nhiệm vụ cấp bách của “bộphận phối hợp” chúng ta hiển nhiên là phải bằng mọi cách tập hợp mọi lực lượng hải ngoại, để cùngđồng bào trong nước đấu tranh, đập tan đảng VC.

Hiện tại điều kiện tất thắng nằm trong tay chúng ta: Thiên thời (tình hình thế giới) đã có. Địa lợi dù tạm thời VC nắm giữ, nhưng lợi bất cập hại, vì chỉ có đói thôi (Hiện nay VC đang kêuđói). Nhơn hoà (Lòng dân cả trong Nam, ngoài Bắc đều bất phục VC). Nay nếu chúng ta không thắng được VC là do không biết “mưu sự” thôi. Vậy các tay tổ OM (Organization Method) cựu QGHC đâu, thử lộ diện xem sao. Hồi còn ở trong nước, tôi trông ngóng ra ngoài mong được tin thành lập “Mặt Trận Thống Nhất Hải Ngoại” quá chừng. Giờ qua đây thấy tình hình rời rạc của các đoàn thể chống Cộng ở đây xem ra nản quá, nên có ý định “chạy làng”. Nhưng đọc bản tin của Hội thấy anh bạn trẻ (Cường ĐS14) nhắc câu “Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách “ đâm ra động lòng, nên viết bài kể trên.

Tuy nó có vẻ mộc mạc, nhưng trong đó gởi gấm chút lòng hoài bão thiết tha về một quê hương Việt Nam sạch bóng Việt Cộng, tự do dân chủ và phú cường.


Nguyễn Nhơn

(1) TRẬN KHE SANH: Là trận đánh lừng lẫy trong Quân sử Việt – Mỹ
Ba Sư đoàn CS Bắc Việt tràn qua Vỉ Tuyến 17 Vùng cận sơn Bến Hải, bao vây một Lữ Đoàn TQLC Mỹ.

Cao vọng của Võ Nguyên Giáp là muốn tái hiện một ĐIỆN BIÊN PHỦ với Mỹ.
Chúng dở lại mửng cũ: ĐÀO ĐỊA ĐẠO luồn sát vị trí TQLC Mỹ.

Lần nầy chúng không dùng đông đảo dân công lộ liểu nhờ có máy đào đất của Nga nhưng vẫn bị phát hiện.

Về sau có dư luận xầm xì là Mỹ thả chuột bị dịch tả vào địa đạo nên 3 SĐ/ CS bị tê liệt nên Quân Mỹ rút lui an toàn.

Có một điều người ta mắc cở, bưng bít mãi về sau mới chịu công khai hóa.
Đó là hành động can trường của một TIỂU ĐOÀN 37 BIỆT ĐỘNG QUÂN VNCH.

Khi bị bao vây, TĐ. nầy chiến đấu anh dũng giữ vững cạnh sườn Lữ đoàn Mỹ.
Khi lui binh BĐQVN can trường đoạn hậu, bảo đảm cuộc lui binh an toàn.