caroline thanh huong

caroline thanh huong
catbui

Libellés

Affichage des articles dont le libellé est Văn Duyên Anh. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est Văn Duyên Anh. Afficher tous les articles

dimanche 18 novembre 2018

For Rent, Cho Thuê, theo Duyên Anh là gì? và nghe đọc truỵên Con Sáo Của Em Tôi.

Một bài viết của Duyên Anh thời sau năm 1975, khi ông còn ở Việt Nam, và một bài chỉnh sửa để người đọc dễ cảm nhận với từ ngữ đúng với cái thời thủa đó.
Cám ơn tác giả đã gửi lên net để chúng ta cùng cảm nhận, những người cùng thời đã qua.
Caroline Thanh Hương

tt

Lời giới thiệu của người sưu tầm:

Đồng Nai Tư Mã” cũng là một bút hiệu khác (tương tự như Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ…) mà Duyên Anh (DA) dùng để viết các bài biếm luận. 
.
Bài này Duyên Anh viết vào khoảng tháng 8 năm 1986.  Nội dung bài, phần lớn nói về “trí thức thân cộng” và một số trí thức mà Duyên Anh gọi là loại “chồn lùi” dưới thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.  Tôi nhận thấy tuy là bài có lời lẽ chống cộng, nhưng Duyên Anh lại viết I (ngắn) thay cho Y (dài) y như kiểu “nhất thể ‘I’ ngắn của văn hóa vi-xi sau 1975…  – tuy vậy, nhiều có chỗ  DA lại viết Y (dài) như cũ?! –  Ngoài ra có rất nhiều câu (paragragh) viết quá dài (cả 2-3 trang giấy) .  Do đó, để bài viết trong sáng, dễ đọc hơn, tôi mạn phép sửa một số chữ có I ngắn và Y dài theo như ngữ vựng VNCH trước 1975; đồng thởi cũng cắt các câu quá dài thành nhiều câu ngắn cho hình thức được nhẹ nhàng hơn.

Xin cảm ơn trước về sự rộng lượng của quý vị.
 .
Trần Văn Giang.

*

Trí thức hay khoa bảng? Người Việt Nam thường vơ tất cả các ông tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, dược sĩ, bác sĩ, luật sư… vào một tụ và bảo rằng đó là trí thức. Hiểu một cách giản dị thì trí thức là những người có từ bằng cấp tú tài lên đến thạc sĩ. Và những người có bằng cấp là những người khoa bảng. Nhưng trí thức và khoa bảng khác nhau, hoàn toàn khác nhau. Khoa bảng đầy bằng cấp mà chưa hẳn đầy kiến thức. Trí thức, có thể, thiếu bằng cấp mà lại thừa kiến thức. Xưa, người ta định giá trị trí thức như vầy:

“Thượng thông thiên văn, hạ tường địa lý, bách gia chư tử, tam giáo cử lưu.”

Đấy đấy, cái sở học của trí thức là phải hiểu mệnh trời, hiểu lòng người, hiểu thời đại của mình thì mới mưu đồ được hạnh phúc cho dân, làm giầu cho nước. Thêm vào nữa, vẫn theo tinh thần xưa, trí thức phải biết soi sáng sự hiểu biết của mình ra bốn phương. Cái đạt của học vấn là tạo dựng những công trình tốt đẹp cho tổ quốc, cho dân tộc, không bao giờ là miếng đỉnh chung hèn mọn, là chút danh vọng phù phiếm. Cao Bá Quát đã mỉa mai thứ kẻ sĩ “mỏi gối quì mòn sân tướng phủ” đấy, thứ kẻ sĩ chỉ biết phục vụ chế độ để vinh thân phì gia. Buồn thay, sĩ khí đã “rụt rè gà phải cáo” sau một phán xét cay đắng của Trần Tế Xương rồi chết dần chết mòn. Hoạt cảnh “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân ông cử ngổng đầu rồng” cáo chung sĩ khí. Và câu ca dao “Ngày xưa ta cũng có vua, Bây giờ mất nước, Bonjour Toàn quyền” đánh dấu sự phá sản trí thức. Bút lông thay thế bằng bút chì. Trí thức bút chì, hạng trí thức giá áo túi cơm, trí thức tiếp nối giòng sông hèn mọn của Tôn Thọ Tường, Hoàng Cao Khải…

Từ đó, chúng ta thiếu trí thức, chúng ta chỉ có khoa bảng cầy cáo tay sai và khoa bảng cơm áo. Chẳng còn sứ mạng của sự đi học nữa. Đi học để mưu sinh dễ dãi hoặc phè phởn. “Phi cao đẳng bất thành phu phụ” là miếng mồi hấp dẫn khích lệ lũ học trò nấu sử đun kinh… “gô loa!” Ông ký, ông thông, ông phán, ông huyện, ông phủ, ông… bồi đã làm sáng danh trí thức. Những vùng dậy của dân tộc ròng rã trăm năm nô lệ, sau Phan Đình Phùng, không thể kiếm nổi một khuôn mặt khoa bảng biểu tượng. Đội Cấn đâu phải bác sĩ? Nguyễn Thái Học đâu phải dược sĩ? Phạm Hồng Thái đâu phải kỹ sư?

Đối với tổ quốc và dân tộc và đối với chữ nghĩa, cái gọi là trí thức nô lệ đã phản bội, đã làm ươn hèn ý nghĩa của sự đi học. Và trí thức tự biến thành đám “cho thuê bản thân.” Những kẻ cho thuê bản thân tiếp tục cho thuê bản thân. Họ đem bản thân của họ phục vụ chủ mới là cộng sản sau khi đã cúc cung phục vụ chủ cũ là thực dân. Rồi, như một cọng rác, bỏ vào thùng nào cũng được, khoa bảng Việt Nam ngốn hết ớt của dân tộc, lột lưỡi hót câu “For Rent” phục vụ đế quốc. Cả ba kẻ thù của dân tộc: Thực Dân, Đế Quốc, Cộng Sản đều là chủ của khoa bảng! Không dám vơ đũa cả nắm mà chỉ nói đa số. Và đa số đó là một thực thể não nùng để nhận diện trí thức và phân biệt ngụy trí thức với chân trí thức. Ngụy trí thức “For Rent” bệ rạc hơn ngụy trí thức “A Louer.” Hãy kiểm điểm thành tích của họ sau hai mươi năm phục vụ chủ Mỹ xem họ đã giúp ích gì cho dân tộc?

Hãy nhìn từ tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, biểu tượng mới và thuần khiết “For Rent!” Từ những đại trí thức đi giật lùi trước mặt ngài “thượng thư” tổng thống Ngô Đình Diệm (danh từ trí thức chồn lùi có ở giai ­đoạn này) đến những đại trí thức khoanh tay trước mặt đám võ biền Nguyễn văn Thiệu; từ những đại trí thức gia nô quốc hội đệ nhất cộng hòa đến những đại trí thức gia nô quốc hội đệ nhị cộng hòa; từ bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đến bác sĩ Nguyễn Quang Luyện, họ đã giúp ích gì cho dân tộc? Không giúp ích gì cả. Họ cho thuê bản thân giá rẻ, họ có thể bán dân tộc họ lấy chức thủ tướng như Phan Huy Quát nhắm mắt để Mỹ ùa sang Việt Nam mà không dám ký kết một quy chế nào giới hạn “tự do” của lính Mỹ ở hậu phương. Họ có thể, như Vũ văn Mẫu, quỳ lạy mấy ông sư vô học, xưng con với mấy ông sư nhãi ranh để trở thành nghị sĩ. Họ có thể, họ có thể hết, kể cả nhận đại sứ Bunker làm bố nuôi để trở thành người giầu thứ 10 Việt Nam.
(Tuần báo Newsweek đã nêu rõ tên tuổi 10 người giầu nhất Việt Nam cộng hòa nhờ chiến tranh, trong số đó, một nửa là đại trí thức lưu manh và một vị là con nuôi của Bunker).

Trí thức “For Rent,” trong mọi lãnh vực hoạt động, đều nham nhở, vô liêm sỉ. Khi ông bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, tổng trưởng văn hóa giáo dục, tuyên bố: “Chính sách giáo dục của chúng tôi là vô chính sách,” có nghĩa là… vô giáo dục. Do đó, ở đại học luật khoa, các giáo sư thạc sĩ tranh nhau dạy năm thứ nhất. Tại sao? Vì rằng Luật khoa và Văn khoa là hai nơi người học trò có thể trở thành sinh viên sau khi đã trượt thi vào Y khoa, Sư phạm, Khoa học, Quốc gia hành chánh… Sinh viên luật khoa năm thứ nhất đông lắm, đến nổi, muốn có chỗ ngồi nghe thầy Thúc, thầy Mẫu giảng dạy, phải tới giành chỗ từ 5 giờ sáng!

Nỗi thương tâm của tuổi trẻ Việt Nam là không làm sinh viên thì làm sĩ quan trừ bị. Làm sinh viên thì được hoãn dịch. Muốn hoãn dịch cho đến ngày tốt nghiệp đại học thì đừng để bị… đánh trượt. Và kẻ trượt năm thứ nhất, sẽ không bao giờ lên năm thứ hai luật khoa nếu không mua “cua” của các giáo sư thạc sĩ! Sự bất lương của trí thức bậc thầy trong phạm vi văn hóa, giáo dục quả là đê tiện. Mà trường luật là tiêu biểu. Tưởng tượng các bậc thầy đã từng làm Tổng trưởng ngoại giao, Quốc vụ khanh, Thống đốc ngân hàng lại tự xuất bản “cua” bán với giá cắt cổ sinh viên nghèo! Thầy bóc lột trò. Thầy cạnh tranh thương mại trò… in “cua” ronéo. Sách của thầy có chữ ký. Mỗi năm thầy sửa sang, thêm bớt một tí gọi là “cập nhật hóa” dù luật đã thành luật. Trò mua “cua” của thầy xuất bản được bảo đảm không trượt nếu thuộc “cua” thầy. Trò sợ đi lính đành tuân lời thầy. Thầy bắt bí trò. Thầy buôn bán cò con. Sự sa đọa của trí thức trẻ sau này có một xuất xứ rõ rệt. Và rõ rệt nhất là cái Làng Đại Học ở Thủ Đức. Chín mươi chín phần trăm các danh gia khoa bảng Việt Nam được ưu tiên mua vi la rẻ mạt của Quốc Gia đã đem cái ân huệ đó cho Mỹ, Đức, Đại hàn, Phi luật tân mướn. Trí thức “For Rent” thật sự mất giá. Trên bảng giá trị giai cấp mới không còn giai cấp trí thức nữa.

Nhất đĩ
Nhì xi
Tam sư
Tứ tướng

Suốt trong hai thập niên “For Rent,” đĩ, tắc xi, sư và tướng thay phiên đứng đầu Top. Trí thức lâu lâu mới lên trang nhất của nhật báo bằng bác sĩ dân biểu Nguyễn Quang Luyện buôn vàng lậu, bác sĩ dân biểu Trần Duy Tự buôn lịch gái cởi truồng… Thuở xưa, hai giai cấp sĩ và nông tuần tự trên bảng giá trị của xã hội:

Nhất sĩ
Nhì nông
Hết gạo chạy rông
Nhất nông
Nhì sĩ

Nhưng khi xã hội thêm những thành phần mới thì sĩ chiếm địa vị độc tôn: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh. Từ Kẻ Sĩ đến Trí Thức đã có một dâu biển phũ phàng, dâu biểu tham vọng cá nhân, ích kỷ, rời xa tình tự dân tộc dấy lên tự chính tâm hồn trí thức và lấp mất sứ mạng trí thức. (Xin nhắc thêm lần nữa để tránh ngộ nhận: Bài này đã xác định có hai loại trí thức. Mọi phân tích và phán xét dành cho trí thức “A Louer,” trí thức “For Rent” là ngụy trí thức, tác giả không đề cập tới chân trí thức). Bởi tham vọng cá nhân, bởi sự vọng ngoại, trí thức càng ngày càng ươn hèn. Đến giai đoạn cộng sản lùa hết vào cái chuồng “Hội Trí Thức Yêu Nước” thì bản chất trí thức là “A Louer,” trí thức “For Rent” lộ nguyên hình cầy cáo mà thẩm phán Trần Thúc Linh là biểu tượng sáng chói khi ông ta rạch miệng ca ngợi luật bầu cử Việt cộng và pháp chế Nhà nước Việt cộng trên đài truyền hình Sàigòn.

Những đại trí thức “For Rent” nào nữa? Giáo sư Lý Chánh Trung vội vã viết bài tâm cảm trên Tin Sáng: “Xin được gọi Hồ chủ tịch bằng Bác.” Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Khoa trưởng đại học Văn khoa, người đã hiên ngang viết loạt bài “Việt cộng, người anh em của tôi” trên tạp chí Đất Nước trước 30-4-1975 thì lăng xăng như gà mót đẻ, một nửa hy vọng được “cách mạng chiếu cố,” một nửa sợ hãi “cách mạng” liệt vào thành phần “ngụy quyền.” Giáo sư thạc sĩ Vũ Văn Mẫu, cựu Bộ trưởng ngoại giao dưới chế độ tổng thống Ngô Đình Diệm, kẻ tự gọt trọc đầu cáo quan trả ấn vào lúc 12 giờ thiếu 3 phút, cựu nghị sĩ dưới chế độ “tổng thống” Nguyễn văn Thiệu,” cựu Thủ tướng dưới chế độ “tổng thống” Dương Văn Minh thì dư can đảm mặc áo sơ mi chim cò diễu phố, miệng cười toe toét trên và trong nổi đau đớn, ê chề của thủ đô bị xâm lăng. Giáo sư tiến sĩ Nguyễn văn Hảo vẫn lái xe DS 19, vẫn chơi quần vợt và rồi ra Hà nội tham quan tình hình để đóng góp vào sự “phồn vinh của tổ quốc.” Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh vung vít chi những bài tham luận kinh tế và cố vấn cho đồng chí Võ văn Kiệt. Đó, những khuôn mặt trí thức đại khoa bảng “bất tri vong quốc hận.” Còn rất nhiều, không kể hết. “A Louer” biến thể “For Rent” và lột xác. Bây giờ là trí thức “Yêu Nước.” Cuộc đổi đời tạo ra đủ thứ “Yêu nước”: Nhà văn yêu nước, Ký giả yêu nước, Công giáo yêu nước, Phật giáo yêu nước vân vân… Nhưng ngoạn mục nhất vẫn là “Điếm yêu nước” và “Trí thức yêu nước,” trong hai ngoặc kép, dĩ nhiên!

*

Đến đây, chúng ta bàn về trí thức “Yêu Nước” quốc nội rồi sẽ trí thức “For Rent” lưu vong. Rồi sẽ bàn về giá trị đích thực của trí thức, thái độ của trí thức để tìm ra người trí thức chân chính của chúng ta và để chứng minh rằng chúng ta rất khao khát chân trí thức. Hãy tạm chia trí thức “For Rent” làm hai hạng. Hạng thứ nhất không làm việc cho chính quyền, chúng ta gọi là trí thức “độc lập.” Hạng thứ hai làm việc cho chính quyền, tức là công chức, chúng ta gọi là trí thức “thư lại.” Những chính quyền Việt Nam cộng hòa đã dành cho trí thức “For Rent” rất nhiều đặc quyền, đặc lợi.

Cảnh sát đặc biệt của ông Thiệu tra tấn những người bị tình nghi Việt cộng không tiếc tay nhưng đã không dám động đến lông chân giáo sư Nguyễn Văn Trung, người công khai nhận Việt cộng, kẻ bị Hiến pháp Việt Nam cộng hòa gạt ra ngoài vòng pháp luật, là “anh em của tôi”; không dám động đến lông chân những ông trí thức đối lập cả với… tổ quốc, những chuyên viên giật giây xuống đường làm nản lòng quân đội theo lệnh của tòa đại sứ Mỹ. Trí thức “độc lập” thừa mứa tự do, dân chủ mà vẫn cố tình phá rối đất nước trong cái thế chỉ có một con đường chọn lựa là tiêu diệt cộng sản trước đã.

Cộng sản còn đang là một đe dọa nguy hiểm của miền Nam. Nó ở phía trước. Nó ở phía sau. Nó ở bên phải. Nó ở bên trái. Nó nằm trong các cơ cấu quốc gia. Chưa thể có tự do, dân chủ tuyệt đối. Tự do, dân chủ tuyệt đối là tự diệt, tự hiến dâng tổ quốc cho cộng sản. Và nữa, trong chiến tranh, có nhiều thứ tự do cần giới hạn. Trí thức “đ­ộc lập” được hưởng tự do miễn cầm súng đánh giặc bảo vệ quê hương và hưởng luôn tự do phản chiến, tự do công kích quân đội. Có ông đại trí thức nào “đi­ vào nơi gió cát” đâu? Có ông đại trí thức nào “xếp bút nghiên theo việc đao cung” đ­âu? Quí ngài ấy được chế độ cho động viên tại chỗ để đối lập tổ quốc và đòi hỏi “hòa bình ngay lập tức.”

Cái kiến thức cộng sản của đại trí thức không đầy cái lá đa. Xin đan cử một thí dụ cụ thể: Giữa tòa án quân sự vùng 3 chiến thuật, bào chữa cho thân chủ của mình can tội chủ trương hòa bình thân cộng, luật sư Lê Văn Mão đã anh dũng tuyên bố: “Tôi nghiên cứu cộng sản qua báo Science et Vie”! Bởi vì, chỉ nghiên cứu chủ nghĩa và hành động cộng sản bằng báo Tây “Science et Vie” nên trí thức “For Rent” đã đâm sau lưng chiến sĩ chống cộng, những nhát dao tàn nhẫn. Trí thức “độc lập” đối lập cũng khiếp đảm lắm. Tại sao họ đối lập? Vì ông chủ Mỹ đã không thuê họ làm đầy tớ lớn. Vì đầy tớ lớn của Mỹ không mời họ nắm giữ vai trò then chốt của quốc gia. Những kẻ đối lập ở miền Nam đã đ­ược mô tả như những con hổ đói lồng lộn đòi ăn. Nếu người ta ném cho chúng thịt bầy nhầy, thịt thối đủ no bụng, hổ sẽ nằm im. Nguyễn Văn Thiệu đã bố thí những địa vị bậc trung cho đại trí thức. Cái ghế bộ trưởng không bộ nào tức là quốc vụ khanh đã làm hả hê bậc thạc sĩ. Và bậc thạc sĩ đã không tiếc lời suy tụng tổng thống anh minh, ủng hộ lập trường hòa bình công chính của tổng thống. Sự trở mặt của trí thức “đ­ộc lập” khiến chúng ta xấu hổ. Cái Tối Cao Pháp Viện quy tụ rặt đại trí thức… hổ đói.

Ông Nguyễn Cao Kỳ đã công khai kể chuyện nhà trí thức đối lập Trần Ngọc Liễng sau khi mất chức Ủy viên xã hội (Bộ trưởng xã hội) của Nội các chiến tranh: “Ông Trần Ngọc Liễng nói với tôi: Xin Thủ tướng cho con của EM sang Pháp du học!” Còn phò ông nhà binh không tú tài thì luật sư Trần Ngọc Liễng xưng em ngọt xớt, hết phò thì trí thức Trần Ngọc Liễng đối lập Nguyễn Cao Kỳ diều hâu. Trần Ngọc Liễng, qua tư cách của ông, chúng ta có câu phán xét chính xác về trí thức “đ­ộc lập,” chi thứ nhất của trí thức “For Rent.” Có lẽ nên kể thêm trí thức đứng hoan hô gà chọi của ông chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương, hầu mã tước ông chủ tịch, trí thức dâng vợ cho Hoàng Đức Nhã để “ổn định” cái ghế phụ tá . Vân vân và vân vân…

Chi thứ hai, trí thức “thư lại.” Đây là hạng công bộc quốc gia, chế độ nào cũng phục vụ miễn rằng đừng sa thải. Thư lại không có tư tưởng đấu tranh và chỉ biết bảo vệ cơm áo và lương hưu trí của mình. Trí thức “thư lại” tham vọng nhỏ nên lưu manh không lớn và hèn thì cũng in ít thôi. Đa số trí thức “thư lại” trong giới luật học, từ tòa án đến văn phòng luật sư là bọn hôi hám nhất, đê tiện nhất. Lũ tòa án lạm quyền tha, bắt; tù nặng, tù nhẹ thông đồng với đám luật sư lột tiền cả nguyên cáo lẫn bị cáo. Không còn gì tởm hơn ông chánh án ngồi xoa mã tước suốt đêm chủ nhật để sáng thứ hai ngồi xử tên đánh bài cào! Cái đám trí thức này bảo mã tước là trò chơi thông minh khác hẳn xóc đĩa, xì phé! Do vậy, người bình dân mới có câu:

Miệng nhà quan có gang có thép
L..n kẻ khó vừa nhọ vừa thâm

Cái miệng của trí thức “thư lại” xứng đáng so với cái “l..n” của kẻ khó. Phải công nhận rằng đám trí thức “thư lại” tòa án là đám làm mờ ám công lý, tạo ra đầy rẩy bất công và đẩy dân nghèo về phía cộng sản. Đám trí thức tòa án quan liêu, phong kiến và phản bội cách mạng từ tác phong đến văn từ. Nếu lần nào đó, có dịp ra tòa làm nhân chứng, chứng nhân sẽ nhận được cái “Trát hầu tòa” như bị cáo hèn hạ. Chứng nhân là ân nhân của công lý. Nhưng mà ân nhân của công lý đã bị miệt thị: “Truyền cho tên X phải có mặt…!”

Đất nước ta đã vô số cách mạng. Riêng ở pháp đình, trí thức “thư lại rặt lũ cặn bã quan liêu.” Người giầu và người nghèo đều bình đẳng trước pháp luật.” Đồng ý. Đó là lời ông chánh án, ông biện lý, ông dự thẩm, diễn thuyết tranh cử. Và không bao giờ là lời vàng ý ngọc của các ông ấy dành cho dân ABC bị chủ phố đuổi nhà, đuổi đất. Trí thức “thư lại” chuyên nghiệp không nên đếm xỉa nhiều. Họ cầu an, hưởng thụ nhỏ và chống đối âm thầm. Ở một xã hội mà hành pháp, lập pháp, tư pháp là một thì đừng nên đòi hỏi sự phản kháng của trí thức tòa án. Chưa hề thấy ông tòa nào từ chức cả. Chỉ thấy các ông Tối cao pháp viện cam đành làm khuyển mã cho hành pháp, các ông luật sư trẻ cúi đầu làm đầy tớ cho Hoàng Đức Nhã để ứng cử nghị sĩ dễ dàng. Bởi thế, luận về trí thức “thư lại,” chỉ nên xoáy vào đám trí thức pháp đình, thứ hò hét công lý khi mặc áo đen và tránh né cách mạng khi mặc áo trắng.

Một loại trí thức “thư lại” khế ước cũng rất đáng bàn tới. Thí dụ trí thức Đặng Tiến, cử nhân văn chương giáo khoa. Tại sao đưa Đặng Tiến làm thí dụ điển hình? Vì ông ta là biểu tượng của trí thức phản bội, bệ rạc. Đặng Tiến thi vào ngành tham vụ ngoại giao. Ông ta toại nguyện. Khăn gói sang Pháp phục vụ ở Tòa đ­ại sứ Việt Nam cộng hòa, Đặng Tiến thỏa chí bình sinh. Trước năm 1963, Đặng Tiến là “lãnh tụ con” của đám sinh viên Đắc Lộ chống đối chế độ Ngô Đình Diệm mà ông bảo là chế độ độc tài, gia đình trị. Đã đút đơn tính phò Cao Xuân Vĩ rồi lại xấu hổ rút đơn. Tưởng chê Ngô Đình Diệm độc tài thì suốt đời đóng vai ẩn sĩ cách mạng, ai dè mót danh lợi, đành muối mặt theo hầu kẻ võ biền Nguyễn Văn Thiệu và chịu quyền chỉ huy của thứ mật vụ ngoại giao Phạm Hữu Giáo tự Mặc Giao.

Chưa hết đâu. Đánh hơi thời thế rất nhậy, trí thức Đặng Tiến đào nhiệm, tình nguyện làm đứa ăn cơm quốc gia thờ ma Việt cộng. Trí thức Đặng Tiến trúng mối. Ông ta anh dũng về Sàigòn buôn bán tem phiếu Imex, áp phe xuất cảnh và tình ái. Mỗi lần về Sàigòn của Đặng Tiến là mỗi lần qua Pháp sửa nhà, đổi xe. Cái bản chất của Đặng Tiến là bản chất của trí thức phản bội dân tộc. Ông ta cho thuê bản thân giá rẻ. Giống hệt lũ Nguyễn Ngọc Giao, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Văn Giàu… Cái điều ghê tởm là, núp trong báo Đoàn Kết của Việt cộng dưới nhiều bút hiệu, Đặng Tiến hô hoán cách mạng và chửi rủa Mỹ Ngụy! Trí thức từ Dương Quỳnh Hoa, Nguyễn Khắc Viện, Thanh Nghị đến Trương Như Tảng có xứng đáng không? Cái trí của họ đâu và cái thức của họ đâu? Tinh hoa của đám Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Văn Giàu… đã dâng hiến cho một tập đoàn khát máu sát hại nhiều lương dân trong mùa cải cách ruộng đất 1956, đã suy tôn tên gián điệp KGB Hồ Chí Minh, đã đồng hóa với những tên ăn cướp ăn cắp.

Tội nghiệp những tên trí thức phục vụ cộng sản. Họ phải thành khẩn đầu hàng giai cấp vô sản. Mà vẫn bị khinh bỉ. Mà vẫn bị Mao Trạch Đông phán xét: “Giá trị của trí thức không bằng cục phân!” Họ đau đớn mà không dám phẫn nộ. Họ ngao ngán mà không dám thở dài. Để khi chết còn được huân chương lao động hạng nhất. Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị, Trương Như Tảng vân vân chỉ là đám theo đóm ăn tàn, theo voi ăn bả mía. Họ không biết nhìn xa, cũng chẳng hiểu nhìn gần. Nổi ngậm ngùi của những Nguyễn Mạnh Hà, Tôn Thất Tùng không làm xúc động họ. Sự than vãn của Nguyễn Khắc Viện không làm lay động cái bóng tối phủ kín lương tri trí thức của họ. Và quyền bính khiến họ bằng lòng biến thành “cục phân,” thứ phân thiếu giá trị của phân bón lúa, bón rau xanh, thứ phân Bộ trưởng Bộ y tế, Bộ văn hóa, Bộ tư pháp trong cái gọi là Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam, cái chuồng yêu nước mang nhãn hiệu cộng sản.

Bỏ Ngụy theo Phỉ không phải vì Ngụy tà. Biết rõ Phỉ tà gấp nghìn lần Ngụy, vẫn cứ cúi đầu làm tôi tớ. Là bởi vì Phỉ biết cách bố thí quyền bính giả tạo. Chỉ cần cái ghế Bộ trưởng Tư pháp bù nhìn, Trương Như Tảng đã mãn nguyện rồi, ông ta hồ hởi gọi tên gián điệp KGB Hồ Chí Minh là Bác và xưng tụng Đảng là Mẹ. Tổ quốc đã hiến dâng cho ông ta có cơ hội thành trí thức, ông ta tự tìm cơ hội thành “cục phân,” thứ cỏ­ đuôi chó theo chủ nghĩa thời cơ mà cộng sản rất đổi khinh bỉ. Những người trí thức thời cơ chủ nghĩa không hiểu điều này: Cộng sản thù hận những ai dám can đảm chống họ công khai nhưng vẫn không dám khinh bỉ kẻ thù của họ. Nếu những ai đã dám can đảm chống cộng sản công khai, khi đầu hàng họ, họ trọng vọng, đãi ngộ đúng mức.

Còn những kẻ xu thời, cộng sản xếp vào loại giẻ rách, loại chó ghẻ, thẩy cho miếng thịt ôi để khỏi sủa bậy và để làm cảnh cho nền dân chủ, cho sự hòa hợp xảo trá của họ. Bọn trí thức ăn phó mát và bơ ở nước Pháp mấy chục năm nay và hoan hô Đảng và Bác mấy chục năm nay chính là bọn cây cảnh của chế độ cộng sản. Họ đâu biết không có biểu tượng trí thức – nhất là trí thức xa lìa tình tự dân tộc, trí thức tỏ lòng yêu nước bằng tiếng Tây – trên mầu cờ vô sản. Búa và Liềm. Búa đủ khả năng đập nát Liềm. Công nhân mới là lực lượng cơ hữu của chủ nghĩa, của chế độ. Nông dân còn thèm quyền tư hữu nên vẫn bị ghét. Nông dân còn bị ghét thì trí thức, dù đầu hàng, chẳng bao giờ nở mày nở mặt nổi trong sự nghiệp vô sản giải phóng toàn thế giới. Trí thức luôn luôn là “cục phân” dưới mắt lạnh tụ cộng sản Mao Trạch Đông. Trí thức đã lêu bêu từ sau mùa quy định thành phần giai cấp 1950 như Nguyễn Mạnh Hà, Trần Văn Giàu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Khắc Viện, Trần Huy Liệu… đấy, ngay cả những hạng trí thức có cha mẹ, anh em bị cộng sản sát hại, thủ tiêu, xử bắn ngay từ 1945 mà đầu hàng cộng sản, cúc cung phục vụ cộng sản, cộng sản hơn cả cộng sản, đã anh nào được làm tới chức huyện ủy, nói chi lọt vào Trung ương Đảng.

Như đã nói, có khoa bảng chưa hẳn là có kiến thức, trí thức và tri thức khác nhau, do đó, thiếu gì khoa bảng trí thức tự biến thành “cục phân” để phục vụ cộng sản. Bọn trí thức này sẵn trí nhớ mà thiếu trí tuệ. Từ Marx lí tưởng đến Lénine sắt máu đã một lần dâu biển Marxisme. Từ Lénine đến hôm nay, Marx đã bị các đệ tử chôn vùi. Marx lạc hậu rồi. Tư bản luận của Marx chỉ còn là cuốn kinh vô giá trị trong thời đại các tư tưởng biến hóa khôn lường trên giây đu tiến hóa.

Một kẻ thất phu cũng đủ sáng suốt để nhận định rằng, cái quá độ của chiến tranh ý thức hệ đã chấm dứt. Bây giờ, chỉ còn lại sự tranh giành quyền lực giữa hai cường quốc. Liên xô là cộng sản nghèo. Hoa kỳ là cộng sản giầu. Khi Liên xô giầu, cộng sản biến hóa thành tư bản cá thể thay vì tập thể. Và, khi ấy, loài người sẽ bị chế ngự, sẽ bị cai trị bởi đồng rúp, bỉ ổi và tàn bạo hơn đồng đ­ô la. Những kẻ ảo tưởng nghĩ rằng mình phò vô sản chống tư bản là ước mơ một thế giới đại đồng, một thế giới không còn người bóc lột người, một thế giới rạng rở ý muốn của Jésus “Tất cả đều là anh em,” sẽ vở mặt. Nếu kinh nghiệm Nam tư, kinh nghiệm Trung hoa chưa đủ chứng minh sự bẽ bàng của “mùa không biên giới”; nếu kinh nghiệm anh em Liên xô vĩ đại, sau chiến tranh biên giới Nga Hoa, đòi nợ viện trợ huynh đệ cho anh em Trung hoa vĩ đại sát ván đến nổi tiêu chuẩn một quần xà lỏn cho một người dân Trung hoa trong một năm chỉ còn một miếng vải và quần xà lỏn rách vá phải chắt chiu “trả nợ ngay, trả nợ hết” chưa đủ chứng minh sự phũ phàng của “nghĩa vụ anh em quốc tế”; nếu kinh nghiệm anh em Trung hoa đòi nợ anh em Việt cộng năm 1977 (vì anh em Việt cộng chọn lựa thân thiết với anh em Liên xô sau chiến tranh) quyết liệt đến nổi 50 triệu dân phải ăn sắn, khoai, bo bo chào mừng hòa bình, dành lúa gạo trả nợ chưa đủ chứng minh lòng hào sảng của cộng sản thì, ít ra, sự “dạy dổ Việt Nam một bài học” của Trung hoa bằng súng đạn tàn phá khủng khiếp những tỉnh lỵ làng xã biên giới phía Bắc, sự xâm lăng Cao mên của Việt cộng phải làm bọn ảo tưởng suy nghĩ về ảo vọng của họ.

Tiếc thay, họ không dám suy nghĩ, không có thái độ trí thức. Họ vẫn cúi mặt phục vụ kẻ mà họ biết chính xác là tội đồ của dân tộc và nhân loại. Có người sợ hãi sự phản tỉnh đeo thêm lời nguyền rủa “sớm đầu tối đánh.” Có người sợ hãi sự phản tỉnh mất quyền lợi về Việt Nam thăm quê hương và áp phe vặt vãnh! Và đó là tâm trạng của trí thức Việt Nam hải ngoại hầu hạ Việt cộng. Cũng có người thay chiếc áo cũ mặc chiếc áo mới cùng nhãn hiệu. Đó là Trương Như Tảng. Trương Như Tảng chỉ là một tên thèm quyền bính. Sự phản tỉnh của nhà trí thức chồn lùi này là sự phản tỉnh cay cú quyền bính bị tước đoạt. Đừng lầm tưởng Trương Như Tảng ngây thơ trong chọn lựa quốc hay cộng. Một kẻ bất tài vô tướng như ông ta, muốn làm Bộ trưởng, chỉ còn một cách theo Việt cộng. Cái gian ngoan của Việt cộng là họ biết dùng Trương Như Tảng đúng lúc. “Cứu cánh biện minh cho phương tiện,” châm ngôn cộng sản. Dùng Trương Như Tảng một giai đoạn nào đó rồi liệng Trương Như Tảng vào sọt rác. Trương Như Tảng thừa hiểu thế. Ông đã nghĩ cái ngày Việt cộng liệng ông ta vào sọt rác còn lâu. Tự thâm tâm, chẳng bao giờ Tảng mơ ước có ngày 30-4-1975. Ông ta sẽ đi vào lịch sử “chống Mỹ cứu nước” bằng phè phởn trong rừng già Nam Bộ, ngoài Hà nội và đôi khi, công du ngoại quốc. Cho tới khi được truy điệu như một liệt sĩ. Bất hạnh cho dân tộc và cho “riêng” Trương Như Tảng, ngày 30-4-1975 đã xẩy ra. Toàn ban bù nhìn của gánh hát Mặt trận giải phóng miền Nam và Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam xuất hiện tại Sàigòn dưới sự quản chế của Hà nội.

Thực quyền của miền Nam nằm ở Sàigòn, do Ủy ban quân quản thành phố chuyên chế. Trần Văn Trà cũng chỉ là thứ hình nộm. Trương Như Tảng có thể phản tỉnh từ lúc đó, từ lúc Ung Văn Khiêm lếch thếch ngoài Hà nội vô… Nam kỳ quốc, mất chức Bộ trưởng nội vụ từ khuya, từ lúc Hà nội ào ạt vào tiếp quản các cơ cấu quốc gia của chế độ cũ, từ lúc cán bộ miền Bắc “nắm” trọn vẹn quyền chỉ huy, từ lúc Thông cáo của Nhà nước ra lệnh nộp hết vũ khí tịch thu của Mỹ Ngụy, dù kẻ tịch thu là Giải phóng quân. Nhưng nhà trí thức Trương Như Tảng đã không dám phản tỉnh. Vì sợ hãi cộng sản. Ông ta vẫn còn thèm quyền bính bù nhìn. Quyền bính nó giống hệt thuốc phiện. Đã chơi thuốc phiện, sẽ nghiền. Đá nắm quyền bính sẽ tham quyền cố vị. Quyền bính khiến Trương Như Tảng ở vào cái thế cố đấm ăn xôi tội nghiệp. Ông ta lú lẩn quên rằng, không phải là người vô sản, không đấu tranh gian khổ, không ở tù ra khám, không bao giờ có quyền bính đích thực. Ông ta hiêu hiêu tự mãn ngồi tại Bộ tư pháp cũ, đường Thống nhất, Sàigòn và nhiệm vụ là… can thiệp cho bà con bị Việt cộng Hà nội tiếp quản nhà đất! Cái thân phận bù nhìn của Trương Như Tảng đã chưa làm vở lẽ sống, vở cái tri thức của trí thức.

Phải đợi đến năm 1976, Hà nội tuyên bố thống nhất tổ quốc, giải thể Mặt trận giải phóng miền Nam, Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam, Trương Như Tảng mới ngẩn ngơ. Nguyễn thị Bình còn đó, Bộ trưởng giáo dục thay vì Ngoại giao và Giáo dục ở Sàigòn thôi; Nguyễn Hữu Thọ tạm thế chỗ Tôn Đức Thắng chết già; Huỳnh Tấn Phát Phó thủ tướng không… phủ; Thanh Nghị Bộ trưởng văn hóa về coi thư viện! Vân vân… Trương Như Tảng bị sa thải. Chỉ cần được giữ lại và giao cho chức Giám đốc sở văn hóa thành phố Hồ Chí Minh thôi, Trương Như Tảng sẽ không vận động sang Pháp và tuyên bố phản tỉnh đâu. Phản tỉnh của trí thức Trương Như Tàng là gì? Ông ta không phản tỉnh để trở về với dân tộc. Hẳn nhiên. Bỏ thằng Ngụy (vì nó không bố thí cho mình chức vụ Bộ trưởng) đi theo thằng Phỉ (vì nó bố thí cho mình chức vụ Bộ trưởng). Một lần phản tỉnh. Bỏ thằng Phỉ thân Liên xô (vì nó sa thải mình) đi theo thằng Phỉ thân Trung cộng (vì nó cung cấp phương tiện vật chất chống lại dân tộc mình và hứa hẹn Bộ trưởng nữa). Hai lần phản tỉnh. Cả hai lần, Trương Như Tảng đều nổi đình đám. Vẫn nhãn hiệu cộng sản dưới cổ áo, Trương Như Tảng đầu quân dưới trướng Hoàng Văn Hoan, chỉ đánh tập đoàn Lê Duẩn và vẫn dùng xác chết Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đấu tranh. Không hiểu “For Rent” tiếng Bắc kinh đọc ra sao?

Ôi, những hạng trí thức hết “For Rent” bán thân cho chủ Pháp, chủ Nhật, chủ Mỹ, chủ Liên xô, chủ Tầu mà cứ gang họng đòi tạo hạnh phúc cho dân tộc, sao mà tởm thế! Ấy vậy mà Trương Như Tảng vẫn huyễn hoặc được một đám các nhà… trí thức trẻ ở Paris, các nhà trí thức chưa hiểu Nhâm Diên là ai, Tích Quang là ai, chưa hiểu tại sao “Đồng trụ triệt Giao Chỉ diệt,” chưa hiểu tại sao tổ tiên mình phải “lên rừng kiếm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai?” Chưa hiểu tại sao Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa về Tầu… Các nhà trí thức này, 20 năm chiến tranh gian khổ trên đất ở quê hương thì yên ổn học hành ở Pháp, 10 năm dân tộc quằn quại dưới gót thống trị cộng sản thì ồn ào tranh đấu làm dáng. Và cứ ngở mình là cái rốn của vũ trụ, là đỉnh cao của trí tuệ lưu vong, hiêu hiêu tự đắc, mục hạ vô nhân, lấy sự nhẩy đầm làm lối về quê xưa, mượn bước disco theo người đi chiến đấu. Các nhà trí thức miệng còn hôi mùi sữa này, mắt chưa nhìn rõ Tầu phù sang Việt Nam 1946, tai chưa nghe thủng Đặng Tiểu Bình dọa dẩm “cho Việt Nam thêm bài học thứ hai,” cắm cúi hậu thuẩn lũ Lê Chiêu Thống Hoàng Văn Hoan và tung hô Trương Như Tảng. Nghĩ thật bẽ bàng. Chẳng còn gì ngu xuẩn hơn đi phò kẻ đầy tớ Tầu, mượn vũ khí Tầu diệt kẻ đầy tớ Nga trên nước mình. Đấy chiến tranh biên giới Hoa Việt đang tiếp diễn, có thằng Ủy viên Bộ chính trị Việt cộng nào chết chưa? Hay chỉ có máu và nước mắt người Việt Nam khốn khổ? Câu hỏi lại đặt ra, trí thức là cái gì?

*

Trí thức Việt Nam, viết về họ chẳng có gì hấp dẫn cả. Cực tả cái thân phận bèo bọt của họ chỉ khiến đau lòng và gây nhiều ngộ nhận. Kể từ quyền bính thống trị được ngoại nhân trao cho đám võ biền vô học, trí thức mất giá. Nhiều kẻ tình nguyện làm gia nô để phục vụ guồng máy cai trị tay sai của ngoại nhân. Và đón gió đã là một thái độ rực rỡ của một loại trí thức thèm khát quyền bính. Nhưng đón gió, cái thái độ bệ rạc ấy, không còn thiêng khi Việt cộng chiếm đoạt toàn bộ quyền bính thống trị miền Nam. Trí thức không đi giật lùi nữa. Họ đi thẳng hàng, nghiêm chỉnh vào cái chuồng của bạo lực mang tên Hội Trí Thức Yêu Nước. Sự ngoan ngoãn của thức trí thức ồn ào cấp tiến khiến lợm giọng. Lợm giọng hơn, thứ trí thức tuần chay nào cũng có nước mắt. Ngày xưa, về quê hương “nhờ ơn tổng thống anh minh và đảng cần lao nhân vị” rồi vẫn “nhờ ơn tổng thống và cách mạng 1-11.” Ngày nay, về quê hương “nhờ ơn Bác và Đảng.” Xem chừng âm nhạc cổ truyền dân tộc đã vướng vài sợi cỏ đuôi chó! Nghĩ mà thương hại cái đàn bầu, đàn nguyệt. Hởi ơi công lao nghiên cứu, hởi ai giáo sư tiến sĩ, tài năng thế mà chẳng chịu bọc lấy vàng son, cam đành theo triết lý của Mạ Nhy (?) để được… yêu nước. Yêu nước, sợ Đảng và nạt nộ nhân dân là thái độ của trí thức đầu hàng và được phục vụ cộng sản. Hãy đi xem sinh hoạt của trí thức đầu hàng cộng sản trong cái chuồng Hội trí thức yêu nước ở đường Nguyễn Thông. Những người này khoa bảng đầy mình. Họ giỏi nhưng họ ngu. Ở chỗ quên cái gốc gác giai cấp tiểu tư sản của mình và chưa bao giờ nghe giai cấp vô sản chửi mình:

Tiểu tư sản thường mắc cái bệnh kinh niên sợ đấu tranh giai cấp, nên thường thích ‘hòa cả làng.’ Vốn là giai cấp bấp bênh, sống trong cái bé nhỏ, cận thị của mình, nên thường không thấy, mà cũng không dám thấy sự thật gay gắt của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội, giữa cách mạng và phản cách mạng. Khi cá nhân bị động chạm, thì ‘hăng lên’ một lúc, có thể rất ‘tả’ nhưng khi được thỏa mãn phần nào, hoặc khi vấp ngã đau, thì lại lập tức chùn lại, rất sợ cái gì ‘đổ vỡ’ Cái ‘hăng’ đấy nhiều khi chỉ là biểu hiện của cái ‘sợ.’ ‘Miệng hùm gang sứa’ chính là tính chất của người tiểu tư sản… Người tiểu tư sản ghét hay yêu người nào thường không phải vì người đó ghét hay yêu cách mạng, ghét hay yêu Đảng và quần chúng, mà trước hết là vì người ấy ghét hay yêu cá nhân mình, hợp hay không hợp với cái tính riêng, cái ‘khẩu vị’ của mình. Anh ta không cần biết tính chất chính trị xã hội của những người mình quen biết, là cách mạng, không cách mạng hay phản cách mạng. Phân biệt ‘con người xã hội’ và ‘con người riêng,’ anh nghĩ: ‘Con người xã hội’ có thể phản động, nhưng ‘con người riêng’ có thể rất tốt, chơi được, không ‘thành vấn đề gì.’ Vì vậy, anh đã cảm động với những sự ‘săn sóc’ nho nhỏ của bất cứ ai, dù là phản động, nhất là khi thiếu thốn buồn phiền… Người tiểu tư sản rất sợ bọn thù địch, và trái lại, rất thích nghe những lời tán tụng phỉnh nịnh mình là ‘đương kim vô địch,’ là ‘đệ nhất,’ là ‘thiên tài.’ Vân vân…“(*)

Không có tư bản tài phiệt ở Việt Nam mà chỉ có bọn tư sản mại bản. Điều này, ông Vũ Tài Lục đã xác định trong cuốn “Những khuôn mặt tài phiệt“(**) Trí thức Việt Nam, đa số, xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản thành thị. Lại xin thanh minh thêm: Bài này tuyệt nhiên không đả động gì tới Trí Thức (viết hoa) là trí thức tinh hoa của dân tộc, lương tri của con người, trí thức mà chúng ta đốt đuốc tìm lại và soi sáng giá trị của họ. Đại biểu của giai cấp vô sản, của Đảng cộng sản đã miệt thị trí thức tiểu tư sản từ tháng 6 năm 1958. Ngót hai mươi năm sau, và có lẽ, đến tận hôm nay, người trí thức tiểu tư sản vẫn chưa vỡ óc. Nói theo Trần Tế Xương:

Tụng kinh cứu khổ ba trăm cuốn,
Ơ hẳn còn quên một phép phù.”

Phép phù ấy, cộng sản nói toạc móng heo: “Sợ đ­ấu tranh; sống trong cái bé nhỏ, cận thị của mình; không dám thấy sự thật gay gắt; thích nghe những lời tán tụng…”(****)

Khi chúng ta, những người quốc gia nói lên những điều mà cộng sản sẽ nói về trí thức, thì họ lồng lộn, tức tối và luôn luôn đem khoa bảng ra khỏa lấp dư luận, lấy cái sự quí trọng kẻ sĩ của quần chúng để giương danh. Họ không dám tra vấn cái sứ mạng của kẻ đi học và sứ mạng thắp sáng quê hương nghìn năm u tối của họ. Tội nghiệp họ, vì ngoài kiến thức chuyên môn, họ còn biết gì đến cái mênh mông của biển học. Họ bằng lòng “sống trong cái bé nhỏ, cận thị của mình.” Ông luật sư không dám giáo dục quần chúng hiến pháp và luật pháp để quần chúng tôn trọng hiến pháp, luật pháp để hành xử quyền tự do, dân chủ và­ đòi hỏi công lý. Ông ta chỉ ham mở văn phòng kiếm ăn bởi sự ngu dốt và ham kiện tụng của quần chúng. Ông ta đã tiếp tay với thống trị đàn áp bị trị. Đất nước ta đầy rẩy những ông đạo, ông thầy sát hại bệnh nhân bằng nước lạnh, tàn nhang, liếm, vuốt… Nhưng các ông bác sĩ tập trung ở thành phố cả bầy. Mỗi ông cố xoay sở một cái phòng mạch. Đã là y sĩ quân đội, y sĩ nhà nước, vẫn cứ ăn cắp thì giờ và thuốc của lính, của dân cho mưu đồ cá nhân.

Tỷ lệ bao nhiêu ngàn nông dân không một bác sĩ là vết ô nhục của Y sĩ đoàn Việt Nam! Dân nghèo trị bệnh bằng vỏ cây, côn trùng. Dược sĩ cho thuê bằng cấp. Dược sĩ đứng bán thuốc nhập cảng. Thế thì giá trị của luật sư tương đương anh viết đơn mướn trước cổng tòa án; của bác sĩ tương đương ông lang băm; của dược sĩ tương đương gã bán cao đơn hoàn tán. Cùng một mục đích: Cơm áo. Thì giờ thừa thãi không phải để nghiên cứu, học hỏi thêm. Mà cờ bạc, gái nhẩy. Và nhi nhô chính trị. Mục đích của kẻ đi học không phải vì để dấn thân vào đời sống mà để ngồi chót vót trên ngọn đỉnh đời sống. Những kẻ “sống trong cái bé nhỏ, cận thị của mình” đâu dám đấu tranh, đâu dám nhìn sự thật. Cộng sản nó nguyền rủa, nó ví như “cục phân.” Thì câm nín, dù ở ngoài quỹ đạo của nó.

Đến khi ở trong quỹ đạo của nó thì không dám hó hé phản kháng, thì ngoan ngoãn đi vào chuồng Hội Trí Thức Yêu Nước. Tưởng những ông trí thức ba mươi năm quê người cũng nên truy nã thân phận tôi mọi cho cộng sản của mình. Đừng nghĩ cộng sản ve vuốt mình là trí thức dân tộc mà phổng mũi. Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Nhị, Đào Duy Anh,… đã là trí thức dân tộc. Mà vẫn bị khinh bỉ là “giai cấp bấp bênh, không dám thấy sự thật.” Dưới nhãn quan phát xít, không có trí thức dân tộc, chỉ có hạng trí thức lột người (dùng chữ của Xuân Diệu) mất nhân tính để đặc xịt thú tính và Đảng tính. Nói rõ rệt, trí thức mang huyết thống tiểu tư sản, lãng mạn tiểu tư sản, tài hoa tiểu tư sản. Mà tiểu tư sản là giai cấp thù địch số một của giai cấp vô sản. Những người trí thức “thích nghe những lời tán tụng” của cộng sản, phục vụ chúng không lương, quả là đã bị cộng sản cấy sinh tử phù. Bấu víu kẻ thù mà vẫn bị kẻ thù nguyền rủa, ngờ vực, trí thức đó là trí thức gì nhỉ? Ở trong chuồng Hội Trí Thức Yêu Nước, họ lăng xăng cải tạo tư tưởng. Lâu lâu, họ được bố thí một đêm chiếu phim bán vé cho nhân dân coi, lấy tiền “bổ xung” cantine đặng cantine bán phở, bán hủ tíu, bán bún bò giá “quốc doanh” cho trí thức yêu nước.

Hình tưởng những ông trí thức yêu nước… Việt cộng sáng sáng chầu chực điểm tâm giá rẻ mạt ở cantine, mỗi ông đeo một cái túi vải thời trang trong đựng toàn thuốc tây của thân nhân “phản quốc và phản động” từ Mỹ từ Pháp… gửi về! Hình tưởng, hãy hình tưởng các ông ấy hỏi giá “thị trường thuốc hôm nay,” ăn no bụng rồi tản mạn khắp chợ trời! Thỉnh thoảng có buổi họp học tập tư tưởng Mác Lê nin, học tập quan điểm nhân dân vô sản, học tập đấu tranh chống tàn dư văn hóa Mỹ Ngụy, học tập cả sự lên án các nhà trí thức chân chính vì can đảm chiến đấu cho quyền sống con người mà bị vào tù ngục cộng sản. Vài ông cở Ngô Viết Thụ được đưa sang Liên xô tham quan thì về hót Liên xô, hót Đảng ầm ĩ. Nhưng khi an toàn leo lên máy bay đi “đoàn tụ gia đình” qua Mỹ, qua Pháp lại lột lưỡi chống cộng sản triệt để nhất thế giới! Sự lương thiện của trí thức biến mất. Cuối cùng, cách đây hai năm, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh tổ chức liên hoan tất niên chào mừng hai “đồng chí” Lê Duẩn và Trường Chinh, trí thức yêu nước được gọi tới hoan hô. Đồng chí Lê Duẩn tuyên bố:

“Người ta bảo cách mạng không cần trí thức là sai, Bác Hồ đã là trí thức. Đồng chí Trường Chinh đây là trí thức. Tôi tuy mới học hết lớp ba, nhưng nhờ học hỏi nhân dân, tôi cũng là trí thức.”

Các nhà trí thức yêu nước vổ tay hồ hởi. Để vinh danh câu nói của Mao Trạch Đông: “Giá trị của trí thức không bằng cục phân!” Trí thức trong chuồng Hội Trí Thức Yêu Nước vậy đó. Vài nét “đ­an thanh” thôi. Nói thêm sợ buồn nôn, nhất là nói về lũ bác sĩ cầy cáo run rẩy ở khoa thần kinh Chợ Rẩy và Chợ Quán mà điển hình là tên Tiếp điếc. Với bố Việt cộng thì y khúm núm, sợ hãi. Với dân chúng muốn thoát khỏi địa ngục đỏ bằng cách xin xuất ngoại trị bệnh điên thì y hạch hỏi, la lối. Tỷ lệ phản động đìu hiu nhất ở Sàigòn, được đánh giá là trí thức khoa bảng. Sự dấn thân tích cực luôn luôn là sinh viên học sinh.

Quốc nội đã thế, quốc ngoại ra sao? Vụ án bẩn thỉu Medi-care, Medi-Aid do một số các ông bác sĩ, dược sĩ bên Mỹ gây ra đã đủ dấy nhơ lên cộng đồng Việt Nam tị nạn cộng sản khắp thế giới chưa? Dấu tích ô nhục ấy bao giờ rửa sạch? Sự ra đi để về giải thoát dân tộc khốn khổ của trí thức nó bệ rạc vậy ư? Cơn lốc oan nghiệt 30-4-1975 chưa thức tỉnh người trí thức cái lẽ phù ảo của danh vọng, tiền bạc ư? Hoặc là theo triết lí mới “Ăn cắp nhanh để gây dựng lại của cải bị ăn cướp”? Ôi tiền nhân Nguyễn Gia Thiều, ngài đã dạy rằng: “Mồi phú quí nhử làng xa mã, Bả vinh hoa lừa gã công khanh” mà trí thức không học, không học luôn cả Luân lí giáo khoa thư! Nên tinh thần ăn cắp lấn át tinh thần dân tộc. Kẻ khước từ quốc tịch, giòng giõi mình thì vênh vang khao vọng. Đứa ăn cắp báo của người khác thì mở tiệc liên hoan. Thánh nhân Trần Hưng Đạo đã là Mr. Đao Hung Tran, Tự Do của ông Phạm Việt Tuyền nghĩa lý gì. Một tên ăn cắp công khai, nhiều tên toa rập cổ võ. Toàn là trí thức cả đấy. Cho nên, những gã lái buôn chữ nghĩa có ăn cắp công trình sáng tạo của các nhà văn chỉ làm công việc noi gương. Trí thức khoa bảng quả là bọn sống không sáng tạo. Ở bất cứ thời đại nào, họ cũng đứng về phía thống trị đàn áp bị trị cho quyền lợi vật chất và công danh của họ.

Máu nào ròng rã chảy hai mươi năm chiến tranh bảo vệ tổ quốc? Không hề có máu khoa bảng. Nước mắt nào ròng rã chảy hai mươi năm chiến tranh quần nát quê hương? Không hề có nước mắt khoa bảng. Nhưng, những người lính dũng cảm, mình mẩy đầy thương tích chiến đấu, trái tim se sắt vì nổi đau mất nước, muốn làm lại tổ quốc thì bị trí thức khoa bảng ngoảnh mặt chê bai không xứng đáng hợp tác cứu nước! Họ cứ muốn chơi riêng và độc quyền hội đoàn. Mà họ có biết chơi đâu. Chính trị của họ là thứ chính trị hạng bét. Chiến đấu của họ là thứ chiến đấu tro nguội. Báo chí của họ là thứ báo chí học trò, mỗi tháng vài trang, rặn hoài chữ nghĩa vẫn thiếu. Mà khoái giăng kẽm gai rào dậu. Đúng là bọn “sống trong cái bé nhỏ, cận thị của mình.” Bản chất hèn mọn của họ thể hiện rõ rệt khi họ khước từ hợp tác với lính mà lại hợp tác với tướng. Tướng oai hơn lính, dù tướng hết là tướng trong cái thế lưu vong.

Một số khoa bảng đã giúp ông tướng hề Hoàng Cơ Minh múa rối trò chơi kháng chiến. Hoàng Cơ Minh vùng vẫy. Hoàng Cơ Minh tác yêu tác quái. Đến ngày “chiến hữu” của Hoàng Cơ Minh là Phạm văn Liễu, Phạm Ngọc Lũy lột mặt nạ gian dối của Hoàng Cơ Minh, họ câm nín, không dám can đảm nhận tội đồng lõa lừa gạt tiền lạc quyên của lưu dân, hủy diệt niềm tin chống cộng của đồng bào. Họ được chia chác tiền bá tánh, chia ghế quyền bính ảo tưởng, lên tiếng sợ thẹn hay ngậm ngùi “tay đã nhúng chàm” cho nhúng thẩm hơn? Những kẻ thiếu thái độ sống luôn luôn hèn nhát và sợ hãi sự thật. Những kẻ ấy sẵn sàng thỏa hiệp, “miệng hùm gan sứa,” chỉ biết tỏ chính kiến trong bóng tối và chụp mũ thiên hạ. Hiếm họa, họ cũng học đòi đóng góp ý kiến bảo vệ “gìn giữ quê mẹ” và lớn họng yêu cầu người khác thực hiện cái này, cái nọ. Nhưng góp mỗi anh chút đỉnh thì họ lờ tịt. Đấy, “đã coi đồng bạc to hơn núi, lại học đòi theo thói Mạnh Thường.”

Chẳng còn gì thảm não bằng một ông khoa bảng hô hào con trẻ nói tiếng Việt mà con ông ta chỉ biết nói tiếng Tây. Đất nước khốn khổ của chúng ta đã tuyệt vọng chuyện đầu tư khoa bảng. Từ ngót nửa thế kỷ nay, đã một tên khoa bảng nào làm rạng danh xứ sở ở nước Pháp? Cái truyền thống của bọn xuất dương du học là địa vị và cơm áo. Về nước, họ tỏ ra bất tài mà lại ham ăn trên ngồi trước. Do đó, họ đã cúi mặt phục vụ thống trị bù nhìn. Ở lại quê người, họ cũng chỉ làm cu ly đầu óc. Danh sách những di dân làm đẹp cho nước Pháp, không thấy ông Việt Nam nào cả! Nhưng chủ tịch các thứ hội đoàn lem nhem thì vô số khoa bảng. Có ông chơi bạo, đem cái tiến sĩ đệ tam cấp vớ vẩn lập Hàn Lâm Viện Việt Nam hải ngoại, làm chủ tịch luôn và… phát giải cho bá tính mới khiếp chứ! Lại có ông muối mặt định lãnh giải về thành tích “giàn đại bác thường xuyên nã vào cộng sản” đấy. Bên cạnh đám khoa bảng đười ươi còn lũ trí thức gian manh, lâu lâu mò về thăm Sàigòn dụ dổ gái tơ, lột cả trinh tiết lẫn vàng bạc của các thiếu nữ thèm khát tự do bên Âu châu rồi quất ngựa truy phong, không bao giờ làm giá thú, vất nạn nhân rên xiết trên đất khổ.

Tình nghĩa đồng bào của họ là thế đó. Đem mồi tự do bịp bợm con gái ghét cộng sản. Ôi, thú vật trí thức! Giữa đười ươi và gian manh là đám trí thức nhện nướng, tài không có mà cứ học đòi độc quyền yêu nước, chí không có mà cứ học đòi một mình chiến đấu. Ngu lại lên mặt hổn, chưa vở lẽ nhện nướng đã ngở mình lão thành, dám ngông nghênh vây hãm cha chú. Uống sữa Tây từ lọt lòng mẹ, dấu hỏi ngã còn viết sai, tiếng Việt Nam chưa sỏi, vẫn thích tranh luận chuyện ngục tù cộng sản. Đám này nói tiếng Tây giỏi song chưa viết nổi văn Tây. Hai, ba chục năm ăn học bên Tây mà nói tiếng Tây không giỏi thỉ măng giê ca ca cho rồi. Đấy n­ó, đười ươi, gian manh, nhện nướng đang thao túng mọi sinh hoạt cộng đồng Giao Chỉ tị nạn ở cái thủ đô Paris của người Pháp.

Bên Tây đã vậy, bên Mỹ thế nào? Ta sợ buồn bút, đau giấy đành ngưng lại. Để câu hỏi nằm thổn thện tại đó. Chỉ xin luận vài dòng về mấy anh tiến sĩ xế chiều. Mấy anh này, xưa ở Việt Nam đã nhí nhô giáo sư, giáo sư loạn cả lên. Qua Mỹ, mấy anh… đi học. Tốt lắm, nếu học để phục vụ dân tộc và nhân loại. Không, mấy anh chỉ cốt có tiến sĩ in luận án, chụp hình và viết báo khoe bằng, thứ bằng giẻ rách. Mấy anh càng khoe tiến sĩ, tuổi trẻ càng khinh bỉ. Vậy chứ xưa các anh dạy học bằng bằng… bịp à? Tiến sĩ có nhiều hạng. Hạng tiến sĩ mấy anh xế chiều là hạng vô hạnh. Có học mà vô hạnh kể như vô học. Thỉnh thoảng, còn tiến sĩ vô giáo dục nữa. Nếu manh áo không làm nên thầy tu, cái bằng tiến sĩ cũng không làm nên giá trị con người. Cần “cho ra cái giống người” đã.

*

Chân trí thức không bao giờ là Ngụy trí thức. Như quốc gia và cộng sản. Như hoa thơm và bùn thối. Bài luận này không hề xúc phạm tới trí thức. Mà chỉ bàn về những hạng chiên ghẻ trong hàng ngũ trí thức. Vậy khỏi đốt đuốc tìm trí thức. Đuốc đã đốt rồi, kẻ thất phu cũng có thể nhìn rõ người trí thức chân chính.


Đồng Nai Tư Mã
(8-1986)
_______
Ghi chú:
(*) Mấy bài học lớn, Tố Hữu. Tạp chí văn nghệ, Hà nội tháng 6-1958.

(**) Xuất bản tại Sài gòn trước 1975

(***) Tố Hữu. Bài đã dẫn

dimanche 1 octobre 2017

Đọc và Nghe đọc truyện Duyên Anh viết Đàn Bà Phiêu Lưu Ký.

tt
Với những tha thiết được đọc hay nghe đọc tiếp những truyện của tác giả Duyên Anh, lần này mời quý anh chị thưởng thức tác phẩm của ông viết về phụ nữ.
Trước đây, với lối hành văn với nhiều mẩu đối thoại làm câu chuyện nào của ông viết thật sống động mà người đọc có cảm tưởng đã xem 1 vỡ kịch hay đọan phim nào đó.
Kính mời quý anh hcị đọc hay nghe đọc truyện Đàn Bà Phiêu Lưu Ký, khá tâm lý.
Caroline Thanh Hương

Những bài đã lưu lại trước đây

Đọc truyện và nghe đọc truyện Duyên Anh.

Nghe đọc 2 audio book tác phẩm của Duyên Anh, Ngựa Chứng Trong Sân Trường và hồi ký Nhà Tù.




Duyên Anh
Đàn Bà

(Phiêu Lưu Ký)


MỤC LỤC [−]

1. đàn bà, lyndiol, ménol, thuốc chích và vòng xoắn
2. đàn bà, ma-ri-sến, phi líp nhỏ, cải lương, tân nhạc
3. đàn bà mệnh phụ phu nhân và đàn bà bình dân... học vụ

           
           

đàn bà, lyndiol, ménol,
thuốc chích và vòng xoắn

THƯA NGÀI, NGÀI CÓ VỢ CHƯA Ạ ? Ngài quyết định sống độc thân cho đến ngày thân nhân ngài lo thủ tục xin giấy thông hành đưa ngài về quê ? Nên lắm. Bạn tôi, ông Mai Thảo đang phơi phới sống những tháng năm không vợ. Đôi khi, thấy bạn tôi nằm cô độc trên giường mà tấm drap ngã mầu cháo lòng và trải luộm thuộm, đánh võ với cảm, cúm, nhức đầu, xổ mũi, tôi đã tưởng rằng ông Mai Thảo "bất hạnh" vì hộ tịch chẳng được cái hân hạnh làm hôn thú giùm ông. Nhưng, những buổi chiều đẹp, thấy bạn tôi ngồi ngất ngưởng bên chai rượu Rémy Martin cùng vài bạn rượu, uống quên đường về, tôi bèn chiêm ngưỡng cái triết lý chê lấy vợ của ông Mai Thảo một cách say sưa, thèm muốn. Những anh có vợ như tôi, như Thanh Nam, như Hoàng Hải Thủy, như Dương Hùng Cường chỉ đủ can đảm thù tạc bên bàn rượu từ bảy giờ chiều tới chín giờ. Ông Mai Thảo và tất cả những ai độc thân đã bất kể thời gian. Họ sung sướng hơn các nhà tu hành ở cái điểm được hưởng đủ tứ khoái công khai. Trong khi các nhà tu hành, thèm nhỏ rãi cái khoái thứ ba. Thèm quá thì chỉ còn cách lạy Phật, lạy Chúa đi một đường lén lút. Nôm na gọi là đi đêm. "Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma". Rủi gặp con ma báo chí, bước đường tu dễ "nửa đường đi xuống" lắm à...

Những người sống độc thân là những người được hưởng đầy đủ ân huệ của Thượng Đế, nếu họ đừng dại dột đi tu hay lợi dụng cổng chùa, cổng nhà thờ để trốn lính ! Người chủ cũ của tôi, linh mục Nguyễn Quang Lãm khả kính, đã tỏ vẻ thương xót tôi khi tôi "tiếu ngạo giang hồ" làm những quả giã từ vợ con đi lang thang vĩa hè y hệt con chó đói : "Ai bảo mày lấy vợ, đi tu như tao có phải sướng không ?" Tôi hỏi : "Thưa cha, đi tu cần làm chủ cái nhà thờ. Cha lêu bêu không có nhà thờ, sướng ở cái khổ nào ?" Cha Lãm cười khanh khách : "Bố mày, mày xỏ ông nhé ! Nhà thờ là sự bằng an của tâm hồn, con ơi ! Con luôn luôn nghĩ tới cảnh thê tróc tử phục, con khổ suốt đời." Tôi khoái quá, gạ gẫm : "Vậy cha giới thiệu con vào một chủng viện đi" Cha Lãm lắc đầu : "Nội cái vụ mày ăn tục, nói phét đã khó thành... cố đạo". Tôi gãi gáy : "Thưa cha, cha cũng ăn tục nói phét ra rít". Cha Lãm bợp yêu tôi một phát : "Bố mày, tao giờ là cha rồi ! Mày láo lếu, ai cũng trêu trọc, không người trị mày nên Thượng Đế sai vợ mày trị mày đó con ạ! Rán mà chịu kiếp đàn ông".

Thưa ngài, ngài có vợ chưa ạ ? Ngài sắp lấy vợ, ngài bắt chước ông Đại Đoàn Kết Nguyễn Gia Hiến, thực hiện khẩu hiệu đoàn kết bằng cách lấy vợ ? ông Nguyễn Gia Hiến lấy vợ vì ông ít hy vọng trở lại Thượng Viện tháng chín này. Ông ta lấy vợ để ôm vợ, giả đò lên giọng Phạm Thái mà lãng mạn "Chí lớn trong thiên hạ không đầy đôi mắt mỹ nhân", hay học đòi cái nỗi chán chường giang hồ múa võ của Trương Vô Kỵ mà nịnh Triệu Minh "Từ nay, ta sẽ dùng bút lông tô chân mày cho hiền thê". Ông Nguyễn Gia Hiến sướng nhé, ông và vợ ông là bà Nguyễn Hoàng Oanh đã đi vào... văn học sử một cách phước thiện đấy. Thưa ngài, ngài nhất định lấy vợ. Vâng, kệ ngài. Đời ngài kể như vất vả rồi. Ngài sắp phải chiến đấu với loài rắn độc. Vì, thưa ngài, Giê-hô -va Đức Chúa Trời cũ đã can đảm phán : "Đàn bà là rắn độc". Ngài không dám can đảm đâu. Những kẻ có vợ đều hèn nhát. Nếu anh nào can đảm, anh ấy phi vũ phu thì là kẻ bạc tình. Ngài sắp lấy vợ, ngài sắp sống mãn đời ngài bên cạnh một đàn bà. Thưa ngài, đấy, những gì ngài cần biết về Đàn Bà. Biết rồi, xin ngài cho tôi một chứng minh để tôi trả lời linh mục Nguyễn Quang Lãm câu nói bất hủ : "Ai bảo mày lấy vợ, đi tu như tao có phải sướng không", ngài nhé !


Tôi không hiểu tại sao các bà vợ hôm nay sợ đẻ thế. Giả thuyết sợ đẻ vì đẻ đau đã bị những cái máy hút của quý vị đốc tờ Nguyễn Duy Tài, Trần Đình Đệ thông qua. Mỗi nhà đẻ ở Sàigòn bây giờ, đều có cái máy hút khiến sự "vượt cạn" của các bà bớt khổ sở. Quan niệm "đàn bà đi biển mồ côi một mình" chẳng thể tồn tại. Máy hút đốc tờ đỡ đẻ, cô mụ là bạn đồng hành. Vậy tại sao các bà cứ sợ đẻ ? Đẻ tốn tiền chăng ? Học đòi sang trọng, vác bụng tới đốc tờ Nguyễn Duy Tài để bị chém cổ chăng ? Không, đốc Tài giầu lòng từ bi lắm. Các thượng tọa, đại đức trụ trì tại Ấn Quang tự đã cảm hóa được đốc tơ Tài. Do đó, đỡ đẻ và hoạt động Phật giáo là niềm giải thoát của đốc Tài. Người ta đã có tâm hồn Phật thì chả còn tâm hồn bóc lột sản phụ. Tôi không tin các bà sợ đẻ bởi lý do đốc tờ đỡ đẻ "ăn mắc". Tôi cũng không tin vì nền kinh tế bánh đa nhúng nước của Việt Nam đòi hỏi các bà một sự "đóng cửa cai đẻ". Bằng chứng là phần xuất quân bình rồi kiệm ước rồi lại phân xuất quân bình chưa gây nổi nạn chết đói. Hôm trước, giá xăng lên trăm phần trăm. Hôm sau, xe hơi đi Vũng Tàu nghỉ mát đông gấp bội. Và, ở của các rạp xi-nê chiếu phim cao bồi có Pranco Néro hay kiếm hiệp có Trịnh Phối Phối, nếu tới muộn, khán giả chịu khó xếp hàng chờ đợi. Để mua về ban công mà đành ngồi trên bậc gạch. Thực thể đó chứng minh nền kinh tế và tài chính của ta càng ngày càng huy hoàng song song với vật giá leo thang và đánh thuế đủ ba mươi sáu kiểu. Sở Thống Kê cung cấp tin tức đều đều. Vật giá chỉ nhấp nhổm vài phần trăm. Tôi hãnh diện lắm. Nước tôi đã có bốn nghìn năm văn hiến; có Thượng Viện với vài vị nghị sĩ nịnh hót tài tình, mị dân khéo léo; có Hạ Viện với quý vị dân biểu ăn cắp tượng Chàm, nhòm 1ỗ khóa, buôn lịch cởi truồng ăn nói mất dạy; có chợ cá Trần Quốc Toản thối um ; có Hội Đồng Quốc Gia Văn Hóa với ông hội viên "va dơ lin và nước bọt bôi dương vật" Giáp Văn Thập; có Hội Đồng Quốc Gia Báo Chí với quý vị chủ báo Batman, Astroboy, SỐ Mạng bàn tay, Đua Ngựa, Chọi Dế..., nước tôi còn có một nền kinh tế không sản xuất!

Tôi học hành lem nhem, khả năng chỉ đủ viết truyện nhảm nhí nên tôi chê viết những loạt bài khảo cứu tải rặt danh từ khó tiêu, hoặc "ý kiến" hoặc "lập trường". Vâng, tôi không sưu khảo, tìm tòi dài dòng. Tại sao các bà thành phố sợ đẻ, tôi xin nhường cho ông Mã Xái, người đốc tờ đã công du hải ngoại tìm biện pháp ngừa để cho giống nòi, thuyết trình tại Hạ Viện. Các bà sự đẻ vì lo vú dài quả mướp, eo lếc hỏng hết, chóng già... cũng xin nhường cho ông Ngô Văn Hiếu, đốc tờ chuyên sửa sắc đẹp ở lầu 1 Crystal Palace Sàigòn. Tôi chỉ biết vì sợ đẻ nên các bà đã xài Lyndiol, Ménol, thuốc chích và vòng xoắn lu bù. Vợ tôi là một đàn bà (em yên chí, anh không can đảm như Giê-hô-va đâu), một đàn bà bị trào lưu... sợ đẻ quyến rũ. Và nàng sợ đẻ thật lực. Là con chiên của Chúa nhưng, lạy Chúa vạn lạy, vì sự đẻ quá xá, con chiên Trần Thị Phượng đã cưỡng lời khuyến cáo của Đức Giáo Hoàng trong một thông điệp mang đầy tính chất nhân đạo của Ngài.

- Anh ạ, ba đứa là đủ rồi. Hai trai, một gái đầy đủ cháu nội, cháu ngoại, con dâu, con rễ rồi.

- Thêm đứa con gái nữa cho đủ hai đôi. Lưỡng phé chắc ăn hơn.

- Em không thích đẻ nữa.

- Rỡn.

- Nói thật.

- Tại sao không thích đẻ ?

- Không cần trả lời anh. Em đã dặn bạn bè rồi, mồng một Tết sắp tới, chúc gì thì chúc, đừng có gở miệng chúc "đầu năm sanh gái, cuối năm sanh trai".

Tôi khựng lại, mím môi, suy nghĩ. Ừ, lạ ghê. Những cái Tết gần đây, câu chúc "đầu năm sanh gái, cuối năm sanh trai" bỗng mất hẳn. Cụ Trần Tế Xương ơi, giá cụ sống đến hôm nay, cụ sẽ chẳng còn hậm hực :

"Lẳng lặng mà nghe nó chúc con

Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn

Phố phường chật hẹp người đông đúc

Bồng bế nhau lên nó ở non".

Tôi nham nhở :

- Em sợ đẻ thì em nên bắt chước những người đàn bà có chồng ghen trong tiếu lâm Việt Nam,

Nhà tôi hỏi :

- Họ cai đẻ thế nào ?

Tôi đáp :

- Anh chồng đi lính trấn thủ miền xa, sợ vợ ở nhà nhảy dù, nên bắt vợ đánh ở khóa, khóa cửa chặt rồi đem chìa khóa ra nơi bưng biển.

Nhà tôi cằn nhằn :

- Anh sửa soạn bàn nhảm.

Tôi nói :

- Nếu em ngại khóa cửa thì anh đành đi một đường hy sinh, nơi gương hai thành Hoàng Ngọc Liên và Hoàng Anh Tuấn vậy.

Nhà tôi ngạc nhiên :

- Hy sinh cái gì ?

Tôi nheo mắt :

- Cái... ấy ấy... mà. Ngượng chết ! Nhà tôi bĩu môi :

- Anh mà biết ngượng. Cái ấy sao ?

- Anh... thiến !

- Thiến ?

- Hoạn đó. Như con gà, con heo bị thiến, nó chỉ còn biết gáy và hết... đạp mái ! Nó béo mập, mỡ dầy cả tấc, ù lỳ, trông chán chường lắm.

Nhà tôi lắc đầu :

- Giải pháp đó hỏng, kể như anh sống mà đã chết.

Tôi nịnh :

- Anh chết cho em... cai đẻ.

Thấy nhà tôi buồn hiu, tôi vội vàng nói :

- Rỡn đó, anh sẽ thiến theo kiểu Tây chứ không thiến theo kiểu Tầu tức là giải phẫu Hoa Đà. Thiến kiểu Tây là cắt một đường dây điện. Cắt xong, bật đèn hết cháy. Lúc nào muốn cháy, bác sỉ sẽ nối dây điện giùm.

Nhà tôi sốt sắng :

- Hết cháy là sao ?

Tôi cười :

- Là đụng vào, điện vẫn giật... tê tê nhưng không có con.

Nhà tôi quay mặt đi che giấu sự mắc cỡ :

- Cắt có đau không ?

Làm sao tôi biết được có đau không! Thằng Hoàng Ngọc Liên "cắt" ở bệnh viện Cơ Đốc Phú Nhuận, thằng Hoàng Anh Tuấn "cắt" ở phòng mạch một người bạn đốc tờ. Con nhà Liên kể lể một danh sách các nhân vật đã nhờ nó hướng dẫn "cắt". Nó quảng cáo hung hãn, bảo đảm không đau. Tiền nong chỉ tốn vài xín. Nó có cái giấy chứng nhận "đã cắt", gặp các góa phụ là đem ra khoe ầm ỹ nên rất được các góa phụ thể thủ tiết với chống nồng hậu giao du. Thằng Hoàng Anh Tuấn thì thuật lại vụ hai vợ chồng người đốc tờ bạn của nó, đè nó ra, chích thuốc tê mà "cắt". Tôi đùa, hỏi nó : "Vợ bạn mày có sờ dế mày không", nó chửi ầm lên "Bố khỉ, vợ nó cũng là đốc tờ, nó sờ dế tao như sờ miếng thịt trâu chết!". Nó khuyên tôi : "Sáu con như tao hãy "cắt". Mày còn trẻ, "cắt" làm gì". "Cắt", có thể thay đổi tính tình. Và, nếu vô lương tâm, ỷ y vào sự "đã cắt", có thể phá hoại trinh tiết của nhiều thiếu nữ ngây thơ."

- Không đau, nhưng mà...

- Mà sao ?

- Tính tình có thể thay đổi.

Tôi bỗng thốt lên lời vàng ngọc :

- Tại sao em không dùng Lyndiol ?

Nhà tôi mắt sáng rực :

- Lyndiol à, em nhớ rồi...

Lyndiol, một trong những dược phẩm "ghê gớm" của nhà bào chế Organon Hòa Lan. Lyndiol đã trở thành một thứ thuốc cai đẻ lý tưởng cho các bà sợ đẻ từ mười năm nay, tại cái mảnh đất đang chiến tranh chết chóc này. Tôi xin diễn tả hình thức và nội dung Lyndiol, Hai mươi hai viên thuốc nhỏ bằng cái khuy bấm nồi ngoạn mục trên cái vỉ giấy bạc hình chữ nhật được bọc bởi ni lông cứng. Chung quanh cái vỉ bạc, ngoài mép, hai mươi mốt mũi tên nối đuôi nhau chạy. Hai mươi mốt mũi tên đánh đại lấy hai mươi mốt viên thuốc, nhà Organon cẩn thận ghi hai thứ tiếng, đề rõ bảy ngày của một tuần, hoặc tiếng Anh tiếng Tầu, hoặc tiếng Tây tiếng Ấn Độ, hoặc tiếng Xiêm tiếng hoặc tiếng Y-pha-nho tiếng Nhật... Viên thuốc thứ hai mươi hai gọi là viên thuốc cuối cùng, vỉ thuốc xinh xắn đựng trong cái hộp cỡ hộp thuốc lá Gitang của Tây cà lồ nhưng dài hơn chút xíu. Hộp in mầu gạch của. Giữa nên mầu là cái vòng tròn trắng. Trong vòng tròn trắng có hai vòng tròn, một đen kịt giống Ấn Độ bán vải, một trắng toát và hai mặt trăng khuyết. Tôi không hiểu ý nghĩa... cai đẻ của cái dấu hiệu này. Song tôi nghĩ, nếu xuất bản loại sách "Nam Nữ Bửu Giám" người ta nên thuổng mà làm "ăn bờ lêm" cho nhà xuất bản của mình. Lyndiol uống... trước khi ngủ. Mỗi khi uống, ấn mạnh ngón tay trên nắp ni lông cứng. Viên thuốc tụt xuống. Theo lời chỉ dẫn của bác sĩ, chào cờ Cộng sản cho tới khi nghỉ chào thì uống viên thứ nhất. Uống hết viên cuối cùng, đợi chào cờ Cộng sản. Đợi muộn nhất là một tuần sẽ "thấy" linh hồn đỏ của lãnh tụ mắc xít. Chừng không "thấy", cứ bình tĩnh sử dụng Lyndiol. Tháng sau vẫn không "thấy" thì nên an ủi "Trời bắt mình thêm con đây, thôi ta để cho vui. Bởi vì, ta đã quên uống một viên nhầm ngày chồng ta sung sức chiến đấu !"

Quên uống một viên Lyndiol, nhớ kịp, hôm sau phải uống ngay, thật sớm. Lyndiol ly kỳ lắm. Nó chính là thuốc để đẻ! Vâng, các bà lấy chồng vài niên, thèm con nít bế bồng mà không có, quý vị đốc tờ đã bắt uống Lyndiol. Quý vị ấy bảo rằng hãy uống đều đều vài tháng rồi giả vờ quên đi, lập tức sẽ thụ thai. Bên Âu Mỹ họ theo phương pháp này, kết quả rất mỹ mãn. Đẻ liền tù tì, đẻ như cái máy đẻ mà uống Lyndiol đủ hai mươi hai viên trong vòng hai mươi hai ngày mỗi tháng, tự nhiên máy đẻ ngừng hoạt động" Ly kỳ chưa ? Người đàn bà nào "hợp" Lyndiol, dùng nó, lên ký ầm ầm. Người đàn bà nào không "hợp" Lyndiol, dùng nó, tính nết đâm cau có, gắt gỏng. Ngoài tác dụng để đẻ và cai đẻ, Lyndiol còn trị bịnh huyết trắng một cách tài tình.

- Em dùng Lyndiol, anh bằng lòng chứ ?

- Tùy ý em. Em nên nhớ rằng quí vị cố đạo quý vị thầy chùa đã bị Cộng sản kết tội không lấy vợ để sản xuất. Nay em dùng Lyndiol, em cũng bị kết tội không sản xuất.

- Dùng Lyndiol là chống Cộng, chống lại sự kết tội của Cộng sản tức nhiên mình chống nó.

A, Lyndiol còn thêm tác dụng chống Cộng! Thiết tưởng Lực Lượng Đại Đoàn Kết của chủ tịch Nguyễn Gia Hiến nên cổ võ Lyndiol cho... vợ các lực lượng viên của mình đi.

- Em chống Cộng bằng Lyndiol !

- Thì giống người ta chống Cộng bằng mồm chứ sao !

- Ý kiến hay. Lyndiol, muốn dùng nó, phải có toa bác sĩ nhà thuốc mới bán. Anh sẽ đi xin toa mua thuốc cho em.

Nhà tôi bắt đầu :

- Anh nói sao ?

Tôi ngoan ngoãn đáp :

- Phải có toa của đốc tờ.

Con rắn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũ mím môi :

- Ai ra lệnh đó ?

Kẻ A-đam khốn khó nhún vai :

- Bộ Y Tế.

Nàng chép miệng :

- Cái Bộ vô tích sự !

Bộ Y Tế, đôi khi, quả là vô tích sự. Thuốc Lyndiol đâu có ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng mà cũng bày đặt chuyện chỉ bán nếu có đơn thuốc của đốc tờ. Hay Bộ Y Tế sợ nữ cán bộ Cộng sản cai đẻ ? Các nữ chiến sĩ du kích Cộng sản cai đẻ rất nguy hiểm cho sự quấy phá đều đều, bền bền. Phải ngăn chặn Lyndiol vào mật khu. Thiếu Lyndiol, quan niệm tách nước - thứ tình Cộng sản được Mao lãnh tụ khuyến khích, đại khái, tình yêu coi như uống tách nước rồi rửa tách, rót nước nữa mà uống, không chút luyến lưu bất cần nghĩa lý, y hệt (khó nói ghê)... - sẽ hỏng bét. Sẽ có những cái bầu trong bụng nữ cán bộ. Một nữ cán bộ hộ lý mà mang bầu là phá hoại xã hội chủ nghĩa, là giẫm nát sự giải buồn của lãnh tụ, là không phục vụ công cuộc cách mạng chống Mỹ cứu nước !

Hãy tưởng tượng các nữ chiến sĩ lao công, hộ lý, đặc công ôm đàn ác-coóc-đê-ông và vác trống đồng ra đi giải phóng dân tộc! Tưởng tượng xong mới công nhận Bộ Y Tế của ta chống Cộng thật cao siêu. Chống từ tinh trùng Cộng sản chống ra. Vậy mà mãi chưa chiến thắng Cộng sản. Rất tiếc, những lần vào sào huyệt địch, quân ta chỉ toàn tịch thu được thuốc trụ sinh do mấy ông dược sĩ ở Sàigòn tiếp tế và bán cả xe cóc cần toa. Và chẳng hề lụm nổi một viên Lyndiol. Tôi tự hỏi, Lyndiol không ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, không được xác định là thuốc cai đẻ, lại bày bán cả đống ngoài chợ trời, Bộ Y Tế bày trò có toa đốc tờ mới cho hiệu thuốc bán là cái con khỉ gì!

- Vô tích sự thật nhưng em yên tâm, anh sẽ xoay toa mua Lyndiol

Tôi nhìn nhà tôi. Thấy nàng quyến rũ hơn cả bao giờ. Bèn gạ :

- Nhé em nhé !

Nàng lắc đầu :

- Để có Lyndiol rồi tha hồ.

Chết. Tôi sắp khốn nạn vì Lyndiol. Những tháng trước đây, vợ chồng tôi áp dụng phương pháp Ogino. Nhờ đó, thỉnh thoảng chán "cơm nhà" - không chán cũng phải chán, nhỡ lệch phương pháp ngừa đẻ thì nguy to, - tôi phơi phới đi ăn "cơm tiệm" hay "cơm khách". Tôi đã cảm ơn ông vua ngừa đẻ Ogino. ông vua này ngăn chặn cái sự "nhé" đêm bảy ngày ba của những bà vợ ham "nhé". Tôi đoán chừng kẻ phát minh ra Lyndiol là một mụ đàn bà căm thù đàn ông. Mụ hại đàn ông chúng tôi. Mụ bắt đàn ông phục vụ đàn bà long đầu gối.

Chắc hẳn mụ này rõ anh chồng thích ăn "cơm khách", hoặc mụ rỗ huê, sứt môi, mắt lé, mũi tẹt, hàm răng "dưới mái tây hiên", người thẳng đuốn giống cây tre bương nên đàn ông chê bỏ. Mụ cay cú chơi xỏ đàn ông trên cõi đời. Tôi với mụ nào quen biết gì nhau mà tôi sắp bị... đòn thù!

- Này em...

- Gì ?

- Nghe nói Lyndiol khan hiếm lắm.

- Thiếu giống. Chợ trời nó bày nhan nhản. Em sợ thuốc giả. Mới lại toàn chữ Thái, chữ Miên, biết dùng ra sao.

- Lyndiol tốn tiền khiếp !

- Có hơn hai trăm một hộp.

- Uống Lyndiol bị khô... tử cung!

- Kệ.

- Tính nết cau có, gắt gỏng.

- Kệ.

- Nhỡ quên một viên, thụ thai có thể đẻ ra quái thai!

Nhà tôi hãm cái phanh anh dũng xài Lyndiol đánh "rét". Tôi muốn ngài tưởng tượng. Vâng, ngài hãy tưởng tượng một anh du kích Cộng sản tình nguyện đi gài mìn. Anh du kích ngỡ rằng trái mìn nổ là anh sẽ được Đảng gắn huy chương. Khi vác mìn hăm hở đi, xếp anh ta bảo anh ta sẽ tan xác cho cách mạng vô sản, anh ta bèn... hối hận. Hãy tưởng tượng khuôn mặt anh du kích Cộng sản, thưa ngài, Nhà tôi hơi chột dạ :

- Thật hả ?

Và bình tĩnh giả tạo :

- Làm gì có chuyện đó

Rồi nàng cười khẫy :

- Em biết anh ngại xoay toa mua Lynđiol, anh kiếm cớ.

Tôi ngại Lyndiol thì có. Ôi, Lyndiol, một thứ thuốc làm thối chí những thằng chống ham ăn "cơm tiệm". Lyndiol, một thứ thuốc bồi bổ đắc lực cho triết lý "cơm nhà quà vợ".

- Được rồi, nhớ đẻ quái thai, em rán mà chịu.

- Anh đừng dọa.

Tôi đau khổ đi xoay toa. Vào cái dịp nhà tôi làm quen với Lyndiol, tôi chưa quen vị đốc tờ nào. Nhân đọc cái quảng cáo "Bác sĩ Nguyễn Tân Xuất mới mở phòng mạch tại ngã ba ông tạ", tôi hơi mừng. Làm một liều diễn nôm Tân Xuất. Tân : mới. Xuất : ra. À, ông đốc Tân Xuất mới ra trường. Mới ra trường là đợi khách, chắc chắn. Quí vị đốc tờ mới ra trường ti toe mở phòng mạch giống quí vị thầy cãi trẻ tuổi ở cái nước đợi. Tôi hân hạnh chơi thân với một vị thầy cãi vừa mở văn phòng riêng. Văn phòng vị thầy cãi này, một niên ròng, chỉ dành làm nơi đấu láo của bạn bè, tuy cái bảng đồng ngời sáng. Ngày nào, ông bạn thầy cãi của tôi cũng áo đen nhà nghề xách cạc táp ra hầu tòa. Nhưng thay vì cãi, bạn tôi chỉ xoay thuốc lá vặt của tụi phóng viên tòa án mà đốt cho đỡ buồn.

Có hôm đợi quá, hết tiền mua xăng chạy vespa, tôi đã đóng vai ma cô, dụ dỗ thân chủ nhà quê lớ ngớ trước cổng tòa án về văn phòng bạn tôi để bạn tôi cãi... thật rẻ ! Khi người ta đói, người ta bình dân, xuề xòa vô cùng. Tôi bắt đường xe nhân dân ( xe buýt) xuống ngã ba ông Tạ. Tôi đã đoán đúng. Đốc tờ Tân Xuất đang đổ cá ngựa cùng cô y tá răng vổ trong phòng mạch. Anh chị say mê lắc xí ngầu. Tôi gõ cửa hai phút, anh chị mới hay có khách lạ. Cô y tá răng vổ hỏi tôi :

- Khám bệnh, hả ?

- Dạ.

Đốc tờ Tân Xuất sáng rực mắt. Ý hắn đây là lần đầu tiên từ khi mở phòng mạch ông đốc mới được bắt mạch bệnh nhân, ông đốc bước ra bắt tay tôi. Cô y tá dẹp bàn cá ngựa, ông đốc mời tôi ngồi, giỏ đồ nghề và mào đầu :

- Ông đau bệnh chi ?

- Tôi bần thần, mệt mỏi, ăn không ngon, ngủ cứ hay chiêm bao thấy ma quỷ.

Ông đốc đi ống nghe lên khắp lưng, khắp ngực tôi. Ông nghe lâu lắm. Lương tâm thầy thuốc mà. Nghe xong, ông bơm tay, đo "tăng xông" và hỏi :

- Ngoài ma quỷ, ông còn chiêm bao thấy gì ?

- Kiệm ước, hễ thấy kiệm ước là tôi rống lên, vợ tôi phải lay tỉnh.

Ông đốc ra lệnh cho cô y tá :

- Vitamine c !

Tôi bắt đầu đóng kịch :

- Bác sĩ ơi, tôi còn bệnh này kinh khủng bác sĩ đuổi cô y tá ra ngoài mua kẹo ăn đi, tôi mới dám nói bác sĩ khám.

Ông đốc cười :

- Bị lậu, hả ?

Tôi nhăn nhó :

- Lục cù đinh !

Đốc tờ Tân Xuất bảo y tá răng vổ đi mua ba đồng bốn điếu "Ru bi Quèn". Ngài mà trông tận mắt cái bàn tay đốc từ đợi Tân Xuất móc ba đồng bạc "Lúa Ngô" ngài sẽ cười bằng thích. Tôi không dám cười. Đốc tờ Tân Xuất giục :

- Cởi lẹ coi nào !

Tôi gãi gáy :

- Thưa bác sĩ, tôi không có bệnh gì cả. Tôi kiếm cớ khám bệnh để xin bác sĩ mở lòng nhân đức cho cái toa.

Ông đốc ngạc nhiên :

- Mua Bê ni xê lin, hả ?

Tôi mếu máo :

- Bẫm, mua Lyndiol.

- Vợ sợ đẻ à ?

- Dạ.

- Mấy con rồi.

- Bảy.

Tôi nói láo. Ông đốc tặc lưỡi :

- Ố là là... Bao tuổi ?

Tôi khai :

- Ba mươi.

Ba mươi mà đã bảy con.

- Bẩm hai lần sinh ba !

Ông đốc kê toa liền. Toa mua được mỗi một hộp Lyndiol. Ông đốc dặn cuối tháng nhớ đến ông coi bệnh... chiêm bao gặp ma giùm. Tôi cảm ơn rối rít. Ông đốc "ăn" bốn choạc, ta ríp ngã ba ông Tạ. Tôi đưa tấm giấy năm trăm, ông không có tiền thối. Kêu cô y tá răng vổ thì cô này đi mua thuốc lá lẻ mãi chẳng thèm về. Ông Đốc đích thân ra đường đổi bạc"

Tôi bèn thuồng mười tờ giấy kê đơn của ông đốc, gấp vội nhét vô túi. Chả bao giờ tôi còn gặp ông đốc tờ Tân Xuất nữa. Thôi, để ông ta chơi cá ngựa với cô y tá răng vổ của ông ta.

Tôi về nhà, nghiên cứu chữ ký của đốc tờ Tân Xuất. Tôi lấy pơ luya đồ chữ ký của nhà trí thức Việt Nam rồi phăng phăng ký ráp. Ký đủ ba mươi sáu lần, tôi mới đám đồ toa chưa kê thuốc của đốc tờ Tân Xuất mà... ký thật sự. Kết quả hoàn toàn như ý muốn. Bởi vì, thưa Bộ Y Tế, một nhà thuốc ở Sàigòn thì mười năm mới có một lần hân hạnh bán thuốc theo toa bác sĩ ngã ba ông Tạ. Và cái sự Cộng sản nó mua bê ni xê lin cũng vô cùng dễ ợt, nếu nó mua theo kiểu "kiến tha lâu đầy tổ". Vậy là tôi mua được mười một hộp Lyndiol, đủ cho vợ cai đẻ mười một tháng.

Thưa ngài, tôi đã diễn tả về nội dung và hình thức một dược phẩm dao hai lưỡi của viện bào chế Organon. Ngài hiếm con, hãy khích lệ bà nhà dùng Lyndiol. Ngài đông con, càng nên khích lệ bà nhà dùng Lyndiol. Vấn đề đẻ quan trọng lắm. Nhân loại là của đàn bà. Một vị nữ dân biểu của nền Cộng Hòa Việt Nam thứ nhất đã nói một câu bất hủ "Đàn bà đẻ ra đàn ông. Không có đàn bà thì đàn ông không biết chui từ lỗ nào ra đời" khi thảo luận "Luật Gia Đình". Luật này do ông luật sư gia nô của trang nữ lưu Trần Lệ Xuân soạn thảo. Bởi thế, đàn ông dân biểu thời đó sợ hãi đèn dầu Liên Đới mà chấp nhận xuất xứ một chuyến chui ra đời. Kẻ hài bước vẫn nghĩ xuất xứ đó chỉ là cái lỗ... đèn dầu Liên Đới. Tôi tự hỏi, tại sao luật lệ ở nước ta lúc thảo luận, thường hay thảo luận từ cái lỗ. Đấy, "Luật Chương Trình" vừa qua có cả chuyện nước tiểu từ cái lỗ của một nữ lưu dân cử chảy vô chai ! Đàn bà nguy hiểm vô cùng. Đàn bà đẻ kỹ, đàn ông méo mặt. Nhà nước phải cứu nguy nạn đẻ. "Đàn bà muốn là trời muốn".Cựu Ước, theo Moise, Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũ lấy một cái Xương sườn của người nam để chế ra người nữ. Đàn bà có từ đó. Và từ đó, đàn bà gây nghiệp chướng cho đàn ông. Đàn bà mớm miếng táo Kiến Thức vào miệng đàn ông. Đàn ông ngây ngất, đê mê, mệt phờ và biết xấu hổ. Và loài người khốn nạn vì đàn bà.

Đàn bà, Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũ nghiêm túc đe doạ : "Mi khó trị, đề rắn độc đương đầu mi". Đàn bà bị đồng hóa với rắn độc. Giê-hô-va còn phán : "Mi sẽ chịu ách đô hộ của đàn ông", Giê-hô-va đã sai. Vì ngài không sống chung bên đàn bà. Đàn bà cai trị đàn ông. Vị tổ của đàn ông là mông xừ A-đam đã bị vị tổ của đàn bà là bà đầm E-vơ xỏ mũi, bắt nằm dài để được mớm miếng táo. Nuốt táo xong, A-đam thở dốc, vẫn bị mớm. A-đam không dám làm cách mạng. Và nhu nhược suốt đời. Những E-và sinh sôi nảy nở. Và làm thối nát đàn ông, sa đọa trái đất. Giê-hô-va bị phản bội. Ngài ức lắm. Mới tạo ra nạn hồng thủy.

Nhưng Giê-hô-va chẳng nỡ tiêu diệt loài người. Ngài chọn ông Noé, bảo đóng chiếc tàu, lượn trên làn sóng đại hồng thủy, cố sống sót để lập một thế giới toàn những người xứng đáng làm người. Ngài lại sai lầm thêm lần nữa. Trên chuyến tàu tị nạn, ngài cho phép Noé, hễ chọn một con đực tốt thì chọn luôn con cái tốt; con trống tốt cặp với con mái tốt... Và, con cái tốt, của ông Noé, bắt buộc phải là bà Noé. Những con cái tốt của đám con trai ông Noé, bắt buộc phải là vợ họ. Như vậy, đàn bà, nỗi thất vọng của Giê-hô-va, tác phẩm phản bội tác giả, vẫn được cứu rỗi trong nạn hồng thủy.

Tôi đoán chắc bà Noé đã thủ một con dao dí vào cạnh sườn ông Noé. Ông Noé sợ tái mặt, nhìn Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũ bằng đôi mắt nai cầu khẩn. Và Giê-hô-va "ô kê". Trái đất, trước và sau nạn hồng thủy, không có gì thay đổi. Vì đàn bà còn sống sót. Đàn bà, loài rắn độc, theo truyền thống E-vơ, tiếp tục cai trị, xỏ mũi hành hạ, đàn áp đàn ông. Đàn bà Đắc Kỷ cho sự nghiệp đàn ông Trụ Vương đi tàu suốt. Đàn bà Bao Tự thiêu cơ đồ đàn ông Châu vương. Đàn bà Tây Thi đẩy đàn ông Ngô vương vào cõi hai năm mươi. Đàn bà Joséphine bắt đàn ông Napoléon ngửi mùi phó mát hăm nhất. Đàn bà Trần Lệ Xuân đưa dao con chó cho cách mạng giết đàn ông Ngô Đình Nhu. Đàn bà Trần Thị Phấn tự Hoa xách guốc rượt đàn ông Mã Xái. Đàn bà Kiêu Mộng Thu mời đàn ông Khiếu Thiện Kế xơi trứng đẻ ra quái thai và dụ đàn ông dân biểu ngửi nước đái. Đàn bà Huỳnh Ngọc Anh đòi đảo chính đàn ông. vân vân... Ôi, đàn bà, tôi sợ đàn bà thấy mồ !

Đàn bà Ấn Độ muốn đặt vòng xoắn cai đẻ, quốc hội và chính phủ Ấn Độ thỏa mãn ngay. Cai đẻ, bên Ấn Độ, là quốc sách, y hệt quốc sách chống Cộng của Việt Nam. Đàn bà không thích đặt vòng xoắn, đã có Lyndiol, MénoU thuốc chích (đừng bắt tôi viết rõ tên thuốc). Đàn bà muốn phá thai, đã có Okim... Và, khối đàn ông đốc tờ lo giúp. Nếu đàn bà muốn đàn ông treo chim, đàn ông sẵn sàng. Thưa ngài, đàn bà của tôi mới chỉ muốn biết mùi Lyndiol.


- Chết rồi, anh ạ !

- Cái gì ?

- Tối qua em quên uống thuốc.

- Có một việc uống thuốc mà cũng ưa quên.

- Nhiều người quên chứ bộ mình em quên sao ?

- Quên thì rán chịu.

- Nếu thế, phàn nàn với anh ích gì!

- Đừng uống nữa.

- Nhỡ đẻ ?

- Đẻ thì nuôi. Quên, quên hoài. Đã bảo đề người ta "cắt" cho xong chuyện không đẻ. Lộn xộn quá chừng.

Một cuộc cãi nhau bèn xảy ra. Rồi giận nhau. Rồi lo lắng vì tối qua "nhé" hơi kỹ. Chỉ tại Lyndiol. Đàn bà luôn luôn thắng dù đuối lý hay lỗi lầm trăm phần trăm. Đừng bao giờ ngài ham chiến thắng đàn bà, chiến thắng đàn bà không ăn cái giải gì cả. Nếu ngài thương yêu vợ ngài, ngài nên thua. Thua suốt đời. Khi ngài thắng, hoặc ngài đưa vợ ngài ra tòa ly dị, hoặc ngài đến Tô Bia may cái sơ mi gỗ. Bị vợ át giọng, hãy giả vờ "phẫn" nặng. Để có cớ tiểu ngạo giang hồ hai mươi bốn trên hai mươi bốn hay đi ăn "cơm tiệm" lu bù mà khỏi cần trình lý do vắng nhà.

Tôi biết thân tôi. A-đam đã thua E-vơ một keo nặng giữa vườn Địa Đàng thì sức mấy tôi thắng nổi đàn bà. Thua, thua, thua, thua. Chỉ những thằng vũ phu, những thằng đèo bồng vợ lẽ mới ham thắng vợ chúng nó. Tôi bèn thua nhà tôi, âm thầm ngồi lấy giấy vẽ khẩu hiệu "Tối nay, em nhớ uống Lyndiol. Em đã uống Lyndiol chưa, uống Lyndiol trước khi ngủ..." Tôi viết rất đông. Trên kính bàn phấn, dán một cái. Dán vào "a ba dzua" trên "táp đờ nuy" một cái. Cửa buồng ngủ, cửa tủ quần áo, trong cầu tiêu, tường bếp, nắp bếp ga, máy giặt, tủ lạnh... đều có khẩu hiệu quảng cáo Lyndiol ! Thế mà nhà tôi vẫn cứ quên.

- Việc hệ trọng của em, em không nhớ. Chỉ nhớ chuyện gây gổ với anh. Nói câu nào cay cú trong lúc nóng giận, em nhớ không sót một tiếng. Uống thuốc thì quên. Rất tiếc ta chẳng ở Mỹ.

- Ở Mỹ thì sao ?

- Thì anh mua thứ thuốc cai đẻ thần sầu.

- Quên có sao không ?

- Không thể quên được. Này nhé, vì thuốc nhét vào cái đồng hồ. Cứ sáu giờ sáng, chuông đồng hồ reo inh tai nhức óc. Hai vợ chồng ngủ say cách mấy cũng phải mở mắt. Một viên thuốc rớt ra. Tự động mà. Em sẽ lượm mà nuốt. Rồi ngủ nữa hay "nhé" rồi ngủ. Đồng hồ đặt ngay ở đâu giường.

E-vơ sướng quá :

- Ờ, thích nhỉ ! Nhưng nếu đi xa, đi Vũng Tàu nghỉ mát, chẳng hạn, thì sao ?

A-đam nhún vai :

- Thì mang theo.

- Nhỡ quên ?

- Quên à ? Quên thì.., có chữa. Cũng như cao bồi ấy, "bắn chậm thì chết".

- Làm thế nào mua được thuốc cai đẻ Mỹ ?

- Một là em đi... lấy Mỹ. Hai là anh đi làm bồi Mỹ. Ba là Bộ Ngoại Giao mời anh đi làm đại sứ.

- Anh đểu vừa vừa chứ nhé! Anh dám đặt hàng đại sứ dưới me Mỹ và bồi Mỹ.

- Không, anh chỉ so sánh. Em ơi, ba điều trên chúng ta đều khó thực hiện. Vậy bổn phận anh sẽ giống cái đồng hồ chứa thuốc cai đẻ "made in USA". Anh hứa với em, với nạn nhân mãn khủng khiếp đe dọa quê hương ta, với nền kinh tế kiệm ước và chấn hưng một trăm năm mươi ngày, sẽ không quên vặn dây thiều.

- Nhưng mà...

- Mà sao ?

- Giá có Lyndiol kiều Mỹ!

- Anh đã nói rồi, hoặc anh qua Mỹ làm bồi hoặc anh được ngồi vào chỗ của ông Bùi Diệm.

Thứ thuốc cai đẻ lý tưởng khiến E-vơ phiêu lưu hơi xa nỗi lo ngại "quên" của mình. Nhà tôi ưa quên lắm. Đi bán hàng thì quên chìa khóa. Đi mua hàng thì quên lấy tiền trả lại. Đi du lịch ngoại quốc thì quên đổi đô la chợ đen. Quên, đó là căn bệnh kinh niên của nhà tôi, con mẹ đàn bà phức tạp nhất thế giới. Bây giờ, trí tưởng đã mỏi mệt. Sau cuộc phiêu lưu ngắn, nhà tôi nhăn nhó:

- Tối qua quên uống thuốc, em sợ quá.

- Thì uống trả nợ ngay đi.

- Uống trả nợ nhỡ vẫn "bị" ?

- Thì đẻ.

- Đẻ ra quái thai à ?

- Tôi đã long trọng cảnh cáo, ai bảo không nghe tôi.

E-vơ thộn mặt. Đôi mắt long lanh. Long lanh như lần ngậm trái táo trên vườn Địa Đàng. A-đam đứng nhìn, thèm nhỏ rãi. Và khi E-vơ gạ mớm thì "ấy" liền. "Ấy" hùng hục. Tôi bèn nói :

- Chỉ còn một cách.

Nhà tôi hớn hở :

- Cách nào ?

Tôi đáp :

- Mở cuộc chiến tranh. Em nên nhớ rằng hôm qua anh đuối sức, vừa "nhé" đã "xuất quân" y hệt chưa đến chợ đã hết người. Đám chiến sĩ xây dựng loài người "ở trỏng" yếu lắm. Hôm nay, bây giờ đây, anh hung hăng vô cùng. Ta "nhé" và tung đạo quan lê dương viễn chinh "vô trỏng". Đạo quân này sẽ uýnh đạo quân tối qua. Hai bên uýnh nhau sẽ chết hết. Đứa nào còn sống thì mệt tử cò bợ, hết ham làm chiến sĩ công binh tạo tác!

Nhà tôi nhõng nhẽo :

- "nhé" ban ngày à ? Tôi gật đầu :

- "nhé" ban ngày để lùng địch để diệt địch.

E-vơ lặng lẽ đóng kín cửa, bật đèn ngủ. A-đam xua tay :

- Khoan.

E-vơ hỏi :

- Đợi gì ?

- Phải uống hai lon bia Mỹ cho nó ngấm.

Những thủ tục lỉnh kỉnh xong xuôi, A-đam và E-vơ diễn cảnh cũ rích trên vườn Địa Đàng. A-đam xung phong, giết, giết rất ác liệt. E-vơ muốn chắc đỡ... có bầu, bắt A-đam đánh ba trận liền. Có bao nhiêu quân tung vào hang hùm hết. Chiến sĩ A-đam "nhé" kỹ. Đến nỗi, "nhé" hết nhiệm vụ thì phải bò vào phòng tắm. Rồi bò ra. Nhờ E-vơ đỡ lên giường. Ngủ li bì. Tới bữa cơm, thều thào nói : "Răng mỏi quá, không nhai được" !


- Anh ạ, tháng này "thấy" sớm.

- Tốt.

- Tốt con khỉ, còn một viên thuốc nữa. Mọi tháng, uống hết thuốc, chờ mấy ngày mới "thấy" cơ mà.

- Cái cảm hứng của "thấy" nó dào dạt thì nó ra sớm.

- Tôi không nói chuyện văn nghệ.

- Ăn vạ tôi à ? Ai bảo lấy chồng. Các cụ đã dạy : "Lấy vợ sinh con rồi có cháu, làm chồng làm bố sẽ làm ông". Đàn bà lấy chồng không để đẻ thì làm chi đây ?

- Đẻ đủ rồi.

- Chưa đủ.

- Đủ.

- Chưa.

- Câm miệng lại, chưa đủ.

- Câm miệng lại, đủ rồi.

- Muốn không đẻ thì cắt tóc lên chùa Ấn Quang mà xin làm bà vãi.

- Anh đi tu xem sao.

- Cô bằng lòng cho tôi đi tu, hả ?

- Ở núi Sam cơ.

- Không, tôi tu ở thành phố. Tôi làm sư thành phố.

- Im đi.

- Này, cô át giọng tôi, tôi đăng đàn thuyết pháp là cô chết.

- "Thấy" sớm có sao không anh ?

Con rắn, quả nhiên, nhiều thủ đoạn của rắn. E-vơ thấy A-đam đòi đi tu, bèn sợ quá.

- Có sao không anh ?

Tôi, một đàn ông, thứ đàn ông phản kháng A-đam kịch liệt, có rất nhiều kinh nghiệm về đàn bà. Thú thật, tôi ghét đàn bà cay đắng. Chỉ vì không có đàn bà thì sống không được nên tôi phải ngậm "bồ hòn" mà yêu đàn bà đấy thôi. Tôi thù Giê-hô-va, thù ông Noé. Tại sao đã tạo nạn hồng thủy mà chẳng chịu diệt hết đàn bà ? Tôi sinh ra đời, như linh mục Nguyễn Quang Lãm phán, để bị đàn bà cai trị. Tôi sợ từ hạt bụi. Hạt bụi, bố anh, anh mà bay vào mắt vợ tôi là tôi khốn nạn. Trước hết, tôi phùng mang trợn mắt mà thổi bụi theo lệnh đàn bà. Thổi hoài bụi nó không chịu ra, đàn bà nó bắt tôi banh mắt nó ra truy tầm bụi. Hôm nào vong hồn tổ tiên linh thiêng, ủng hộ tôi một tí, tôi tóm cổ được con nhà bụi liền. Hôm nào tổ tiên tôi quên tôi, con nhà bụi ẩn kỹ, đàn bà cau có. Và tôi cau có. Thế là tôi sì nẹc, đập phá lung tung và ra đi... hẹn về. Than ôi, ai dám ngờ hạt bụt cũng đủ gây sóng gió cho đời tôi.

- Có sao không anh ?

- Có, đến tối có sao.

- Tối có, hả ?

- Tối đầy sao sáng.

- Anh giễu à ?

- Ai thèm giễu. Thực sự tôi chán tất cả. Chán đàn bà, chán Lyndiol, chán "nhé", chán, chán, tôi chán. Tôi sẽ đi tu. Tôi cần tu. Tôi cứ tu. Trước khi đi tu, tôi sẽ đi hỏi đốc tờ cho cô về cái vụ sớm. Tôi sẽ hỏi như đã đi mua bông vệ sinh Bạch Tuyết cho cô. Tôi cóc xấu hổ gì hết trọi. Chao hỡi, song thân, tại sao hai đấng chả chịu sinh con là ái nam ái nữ!

E-vờ cười thích thú :

- Bao giờ anh đi hỏi đốc tờ ?

A-đam thối chí!

- Tôi đi ngay. Tôi đi ngay.

Và lầu bầu chửi thầm :

- Sư anh A-đam, anh ăn táo ngon miệng, anh làm khổ chúng tớ.

Đàn ông, với đàn bà, nhất là đàn bà đẹp, thơm như mít, không thể khá hơn.

Đàn ông, mi chỉ hơn nô lệ ở cái khoản được nằm trên. Sau đó, mi bị hành hạ khổ sở.

- Tháng này mãi không "thấy" gì cả.

- Em muốn thấy gì ? Anh chán em kéo cờ Cộng sản rồi.

- "Thấy" cái "ấy mà"

- Thấy "tội" hả ?

- Sao lại "tội" ?

Giê-hô-va chơi khăm ra phết. Hai hình phạt mà đàn bà phải gánh chịu là mỗi lần đẻ và mỗi cuối tháng kéo cờ đỏ. Trước đây, người ta gọi là kéo cờ Nhật Bản. Nhưng Nhật Bản với Việt Nam đang liên kết mật thiết, gọi thế, e xúc phạm nền bang giao. Thôi đành chống Cộng sản bằng cách gọi cái sự "thấy" mỗi cuối tháng của đàn bà bình thường (không có bầu, không có bệnh) là kéo cờ Cộng sản vậy. Đàn bà mà không phải chịu đựng một trong hai hình phạt của Giê-hô-va, họ sẽ khởi loạn tranh đấu ra rít, tranh đấu ác liệt hơn sư hổ mang.

- "Tội" của đàn bà. Em ngẫm xem, những ngày treo cờ Cộng sản em có khổ không ?

- Khổ quá.

- Đàn ông làm gì bị cái trò đó. Giê-hô-va trung lập thiên đàn ông.

- Này...

- Gì ?

- "Thấy" muộn, em sốt ruột ghê. Quá hạn rồi mà "hồng quân" chưa trở lại!

- Vậy là em muốn đẩy anh đến ông đốc tờ để ông ta kê tủ đứng vào họng anh, hả ? Em đi mà hỏi. Đến mông xừ Nguyễn Duy Tài gấp. Mông xử Tài "ga lăng" số dzách. Coi chừng, ông ta ôm chặt hôn gỡ một phát thì anh... lỗ vốn.

- Em ghét "thằng cha" Tài!

- Cũng dễ thương chứ ?

- Đang khám bệnh "thằng cha" nghe chuông điện thoại reo là chộp lấy đấu hót với thầy chùa cả nửa tiếng.

- Lủy mê thầy chùa, đồng thời, vẫn dành cảm tình cho các bà phước. Chả nên công kích người bạn của... sản phụ.

- Anh đi hỏi giùm em đi.

- Lạ ghê ! "Thấy" sớm tôi cũng khổ, "thấy" muộn tôi cũng khổ. Không "thấy" tôi còn khổ chừng nào ?

Bèn đi hỏi đốc tờ. Tôi, lần nào gặp đốc tờ, hỏi về vụ Lyndiol cũng đều diễn tả E-vơ như một con mẹ đang đau khổ vì bệnh trĩ. Vừa trĩ sa trôn trê vừa ho lao sắp mặc sơ mi Tô Bia. Đàn bà như vậy rất đáng thương. I-pô-cát cho phép môn đệ giúp mụ ta cai đẻ. Đốc tờ bắt mua ống thuốc điều kinh chích vào mông. Và khuyên nên bỏ Lyndiol dùng Ménol. Ménol, thứ thuốc cai đẻ mà tôi sắp diễn tả hình thức và nội dung của nó.

Ménol là dược phẩm của viện bào chế I.S.H. Tôi không biết I.S.H. viết đầy đủ ra sao. I.S.H. ở số 91 phố Vangirard Pa-ris 6è. Cái hộp bằng giấy bên ngoài không lấy chi làm đặc sắc. Nhà Roussel Việt Nam, 6 đại lộ Nguyễn Huệ Sàigòn, được "thầu" lại cách chế của I.S.H. nên Ménol có lời chỉ dẫn bằng "tiếng quốc ngữ, chữ nước ta". Đựng trong hộp giấy là hộp nhựa nhỏ bé, xinh xinh. Nắp hộp nhựa hình tròn. Phần dưới hình bát lăng. Trên hình bát lăng có miếng mê ca trắng xoay tròn. Dưới miếng mê ca trắng là cái mặt trông y hệt mặt đồng hồ. Những con số từ 5 đến 25 đỏ chói. Ngoài mép, đứng hách như cô Ba Tý, là hai mươi mốt viên thuốc trắng. "Đề-pa" thì bật đèn xanh và uống viên thuốc số 5. Số 5 tới số 15, viên thuốc nhỏ, ghi chữ Ma. Mười viên sau lớn hơn, ghi chữ Mb. Uống đến viên thứ 25 thì đèn đỏ bật. "Xì-tốp" chờ treo cờ Cộng sản. Ménol, hình thức vừa tựa hộp phấn Max Pactor. Nếu bán ở tiệm son phấn, nhiều giai nhân Hố Nai, Gia Kiệm có thể mua về uống cho mặt hết sủi tăm, trứng cá được mùa lắm à!... mấy anh Chà-và bán son phấn ưa xỏ lá vô cùng.

Về nội dung của Ménol, tôi xin phép ông Roussel Việt Nam, trích của ông một đoạn văn chương cai đẻ. Ménol chuyên trị :

- Các trường hợp tắt kinh.

- Kinh kỳ không đều hòa.

- Hành kinh đau đớn.

- Các triệu chứng trước mỗi kỳ kinh hoặc giữa hai kỳ kinh.

- Biến chứng khi bể kinh.

Cách dùng như sau : Ngày có kinh kể từ ngày đầu tiên của kinh kỳ, đến ngày thứ năm bắt đầu uống một viên nhỏ, dù còn hay đã hết kinh. Tiếp tục uống mỗi tối một viên nhỏ cho đến ngày thứ 15 (tổng cộng là II viên nhỏ), rồi kể từ ngày thứ 16 mỗi tối uống một viên lớn, như thế trong mười ngày liền. Cần phải uống đều đều mỗi tối và nên uống vào lúc đi ngủ. Nếu tối nào quên uống thì ngày hôm sau phải uống bù một viên vào buổi sáng và buổi tối vẫn uống một viên dành cho ngày hôm đó. Thường thường sẽ có kinh lại hai hay bốn ngày sau khi viên thuốc cuối cùng, nghĩa là vào khoảng ngày thứ 27 cho đến ngày thứ 29 của kinh kỳ. Đến kỳ xuất kinh kế tiếp điều trị theo cách chỉ dẫn ở trên. Nếu đến ngày thứ 8, kể từ khi ngưng uống thuốc mà vẫn chưa có kinh thì ngày hôm đó phải điều trị lại bằng cách uống một viên nhỏ thứ nhất, theo lời dặn của y sĩ điều trị. Trong khi trị liệu lần đầu, có thể xảy ra chứng buồn mửa nhưng hiện tượng này thường nhẹ và sẽ mất hẳn trong những kỳ trị liệu tiếp theo.

Muốn "bắt" Ménol mỗi tối bỏ vô miệng, tay trái cầm phía dưới hộp, tay phải xoay cái nắp mê ca trắng một nấc. Nắp mê ca có lỗ thủng, viên thuốc sẽ rơi ra. Đang xài Ménol mà "đình chiến" với nó, dù chỉ tạm thời, noãn sào sẽ hoạt động trở lại mạnh mẽ. Do đó, trứng lại tiếp tục rụng, hứa hẹn có bầu sau những cuộc "nhé". Nội dung và hình thức của Ménol đã được diễn tả tỉ mỉ. Ménol hay Lyndiol bị phủ nhận là thuốc cai đẻ, mặc dầu, chúng là thuốc cai đẻ của những đàn bà sợ đẻ. Lyndoi và Ménol, tôi không ngờ, chúng lại chung lập trường với các chính khách cỡ lớn. Nói không mà có, có mà không. Thanh minh phải hiểu là xác nhận ngầm. Bố các anh Ménol, Lyndiol, các anh rắc rối quá. Tôi sắp điên đầu với sự rắc rối cuộc đời của các anh đây.


- Anh ạ...

- Cái gì ? Để tôi xem nào. À, cuối tháng, chưa ra tòa án của Giê-hô-va chịu tội, hả ?

- Em buồn mửa quá.

- Ai bảo tiếc của vớ vẩn. Thức ăn tối qua thừa thì đổ đi, không đổ, đem cất vô tủ lạnh, trưa nay hâm lại ăn nên đau bụng, buồn mửa chứ gì ?

- Không phải.

- Thế tại sao buồn mửa ?

- Ai mà biết,

- Có thèm ăn khế chua không ?

- Không.

- Lạ nhỉ ?

- Dạ.

- Cơ sự hãy tôi phải đi Đà Lạt mất.

- Đi làm gì ?

- Coi bói.

Ở Đà Lạt, ngoài thầy bói Chiêm, người rờ mu rùa đã làm rung chuyển chế độ Bắc Việt hôm nay, còn một ông thầy bói sáng ly kỳ lắm. Khách tới nhờ ông coi bói, nếu người từ Sàigòn lên, thầy bói sáng sẽ chạy khỏi cửa, một bàn tay chụm đặt sát vào tai, bàn tay kia chụm đặt sát vào miệng như cái ống nói và nghe. Rồi ông alô, alô... Người ta bảo ông gọi âm binh. "Alô, alô. Đà Lạt gọi Sàigòn, Đà Lạt gọi Sàigòn, nghe thấy không ?" Gọi dây nói... âm hồn chừng một phút mà chẳng ăn thua gì, thầy bói sáng mời khách ra về thơ thới hân hoan. Nhưng gọi được, thấy đoán trúng vanh vách.

Tôi có người bạn làm nghề viết báo. Vợ hắn mắn đẻ vô cùng. Và cũng phải dùng Lyndiol. Mợ dùng Lyndiol không hợp. Bị xúi dại, chưa dùng hết tháng, mợ đòi Ménol cuối tháng trục trặc kỹ thuật, mợ chậm kéo cờ Cộng sản, mợ rầy rà cậu. Cậu ức quá, giá vợ lên Đà Lạt. Cậu đi coi bói ở nhà thầy bói. "Alô, Alô alô, alô, Đà Lạt gọi Sàigòn. Sàigòn nghe rõ chưa ? Alô, alô... Thế à ? Nguy hiểm à ? Không sao chứ. À, bà ấy xài hai thứ thuốc cai đẻ à ? Cám ơn Sàigòn nhé !" Bạn tôi nghe xong, sợ toát mồ hôi, phục thầy bói Alô sát đất.

- Em ạ...

- Gì hở, anh ?

- Đọc lại cách chỉ dẫn dùng Ménol xem sao ? Hì hì, đây rồi "Trong khi trị liệu lần đầu, có thể xảy ra chứng buồn mửa..."

- Hú vía.

Khuôn mặt nhà tôi rạng rỡ. Tôi bắt tội nghiệp đàn bà. ở Chợ Lớn có một đàn bà Việt gốc Hoa rất sợ đẻ. Mụ tới trình bày hoàn cảnh với bác sĩ. Vị bác sĩ nọ hơi khôi hài, ông ta khuyên mụ nên ra hàng thuốc lá mua mười hai cái kẹo sô cô la bọc giấy vàng, mỗi tháng xài một cái. Mụ đàn bà ngu dốt cứ thế mà thi hành. Mỗi tháng mụ nuốt một cái. Mới nuốt đến cái thứ sáu, mụ đã thấy bụng nổi báng. Mụ đến bắt đèn vị bác sĩ nộ. Vị bác sĩ cười bò ra phòng mạch, Cười xong thì khen bộ máy tiêu hóa của mụ rất tốt. Nuốt sáu cái "áo mưa" mà bao tử không bị loét!

Về chuyện cai đẻ, tôi đã gặp lắm cảnh cười ra nước mắt. Có đàn ông sợ đẻ thay cho đàn bà, mỗi tháng mỗi nghiên cứu phương pháp Ogino khiến vợ ông ta phát chán, nhờ luật sư làm thủ tục ly dị. Theo chị đàn bà này, công việc sáng tác là theo hứng chứ không thể áp dụng bằng công thức một cách máy móc. Lại có đàn ông giấu vợ đi thiến. Thiến được một năm thì vợ thủ thì... có bầu. Anh đàn ông trợn trừng mắt, sùi bọt mép, ngất ba hôm. Tỉnh dậy, sờ lên đầu mới hay đầu mình lởm chởm sừng non, sừng già. Đành ngậm nỗi căm hờn, không dám nói, dù chỉ nói với vợ.

Ménol không được chiếu cố tận tình bằng Lyndiol. Vì nó chế "xú lít xăng" của Tây. Đàn bà luôn luôn có lý. Đàn bà nói :

- Việt Nam làm ẩu tả, thuốc thiếu "đô" là thường. Thuốc cai đẻ mà thiếu "đô" thì... chết.

Đàn bà nói là trời nói. Đàn ông cãi :

- Phải có tinh thần "ta về ta tắm ao" Muốn dân mạnh, nước giàu, ta nên dùng đồ nội hóa.

Đàn bà quắc mắt :

- Ao ta là ao tù anh cũng bắt tôi tắm à ? Nhỡ ghẻ thì sao ?

Đàn ông bèn câm miệng. Tôi biết chắc tổ sư A-đam đã nhất định không chịu để tổ sư E-vơ mớm táo. Nhưng E-vơ nhiều đòn vọt. Đòn thứ nhất là tỉ tê giữa đêm khuya thanh vắng khi chỉ còn giun dế đùn lên những giọng sầu. Hàng triệu triệu đàn ông "chết rồi vẫn trỗi dậy dẹp ghế bố" chẳng phải vì uống thuốc bổ thận của nhà thuốc Thảo Nam Sơn. Mà vì điệu tỉ tê gù đạp :

" Đêm khuya thanh vắng để làm chi

Ăn no ngũ kỹ lại nằm khì

Chàng ơi trở dậy chiều em tí

Đi..."

" Đi", ôi tiếng "đi..." nũng nịu làm như trời nồi gió lớn và giục đàn ông dựng cột buồm ra khơi. Đàn ông, chỉ những anh điếc mới không nghe được âm thanh gợi tình của tiếng "đi" từ đôi môi đàn bà êm ái như điệu gió đàn bò vào tai mình. Có thể, bọn đàn ông thô lỗ "lông nách một nạm, trà tàu một hơi, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu", lại trót tu bẩy xị đế, ngủ rống như còi xe lửa, răng nghiến răng ken két mới tàn nhẫn đến cái độ không thèm "trở dậy chiều em tí". Những lãng tử, những nhà nghệ sĩ chân chính trên cõi đời, dù đang nằm mơ thấy ngày mai đói rách, thoáng nghe âm thanh "đi" là vội tỉnh như con sáo sậu, "đi" liền. "Đi" mau, "đi" hăng và "đi đến nơi chân trời xa"... Do đó, những nhà nghệ sĩ trót "chiều" nàng tiên Hít Tô Phe thì không kể, còn đều giống bầy cò hương. Vì "chiều em tí" rất nhiều... tí!

Thần tượng A-đam sợ vợ của tôi đã nghe lời u mê của E-vơ vào một đêm khuya thanh vắng, lúc Giê-hô-va đang ngủ say. Đó là giả thuyết đầu. Đòn thứ hai của đàn bà là khấp quyền tức đòn khóc. Đàn bà, nhất là đàn bà đẹp mà khóc thì nó ai oán, não nùng khôn tả. Những thi sĩ trứ danh đều ví nước mắt đàn bà như giọt ngọc. Vua Trụ, vua Châu, vua Ngô đi ô tô bương sự nghiệp là bởi những người đàn bà đẹp Đắc Kỷ, Bao Tự, Tây Thi buồn. Khóc xong sẽ buồn, Đàn bà buồn, đàn ông sợ thấy mẹ. Gần đây, những giọt nước mắt của người đẹp Hạ viện Kiều Mộng Thu đã làm đôi còng còng tay đàn ông Trần Ngọc Châu mềm nhũn ! Vợ tôi mà khóc, tôi có hai cách đối phó. Hoặc năn nỉ "Anh lạy em, em nín đi cho anh nhờ", hoặc kiếm vài cái ly rẻ tiền đập nát, ra cái điều "ông" Tác giăng nổi giận. Cách thứ nhất ngon lành hơn.

A-đam lắc đầu từ chối E-vơ khóc. Rồi buồn. Đàn bà buồn, lạ thay, đẹp và quyến rũ bội phần. A-đam nuốt nước miếng cái ực, gồng người, há miệng đớp miếng táo của E-vơ. Đàn bà mớm tạo, mớm luôn lưỡi và hương tình. Đàn ông gục xuống như một nô lệ hạng bét. A-đam đã thua trận đấu... táo ! Đó là giả thuyết thứ hai. Hai giả thuyết là đủ chứng minh đàn bà nhiều đòn phép. Đời sau, tôi thấy có mỗi bà Đặng Thị Tuyết Mai là không tỉ tê và khóc buồn với ông Nguyễn Cao Kỳ giữa đêm khuya thanh vắng. Vợ một ông tướng nó khác lạ chăng ? Hay ông tướng không có tâm hồn nghệ sĩ để nghe điệu gió đàn "đi" êm ái luồn vào tâm tưởng. Để được trong sạch suốt đời ? Ôi, cuộc đời có nghĩa lý gì mà cần trong sạch với nó. Phù du, phù du cả mà thôi, Lý Bạch chả đã ngâm vang : "Phù sinh nhược mộng vi hoan kỷ hà" đó ru ! Than ôi, ta tiếc đã không được công hầu khanh tướng để mang tiếng vì đàn bà đẹp mà thân bại danh liệt. Phải là đàn bà đẹp. Chứ, đàn bà xấu xí đờ cốc xi cốc, đùi hom hem lại biểu diễn đầm già, hàm răng năm bảy chiếc bọc vàng, mắt toét, lỗ mũi hướng thượng thì xê ra để ta trở thành người quân tử!

Ta chỉ là một nghệ sĩ, một thứ đói rách thất học không biết kiếm cơm áo bằng cách nào, bèn thử thời vận múa bút. Và trở thành nghệ sĩ. Đời không hiểu ta cứ ngỡ ta sinh ra đời là ôm mộng văn chương. Ôi, văn sáng giá hay văn tối giá thì, nói theo bạn ta là Mai Thảo, đều giống tô phở. Kẻ quen miệng ăn phở tiệm này khen ngon, kẻ không quen miệng thì chê dở, khen tiệm nọ. Đứa trót viết văn cứ viết, nào cần viết hay hay viết dở, nào cần nghĩ văn minh được giá hay mất giá. Khi ta còn lêu bêu như chó mất chủ, con gái yêu ta chỉ có vợ ta. Tới lúc ta có sổ gia đình, gặp những tai nạn nghề nghiệp, bị đời dọa "tỏ thái độ", khối kẻ mong muốn "thái độ" vùi dập ta. Lại vẫn chỉ có vợ ta tiếp lửa tranh đấu cho ta. Nên bổn phận của ta là sợ vợ ta. A-đam đã sợ E-vơ.

Con cháu của A-đam thấy con cháu của E-vơ chê Ménol, bèn chê :

- Ừ, phải đấy.

- Phải cái gì ?

- Phải "người về u buồn khắp trời" với Ménol

- Là gì ?

- Biệt ly.

- Biệt ly cái gì ?

- Giã từ ấy mà, giã từ Ménol !

- Anh lộn xộn quá.

- Anh hiểu rằng anh lộn xộn lắm. Bây giờ là thời đại nổi loạn, em biết chứ ? Muốn đề phòng một nổi loại vô duyên cớ, anh lạy em, em cứ để anh xung phong... thiến !

- Lãng nhách.

- Em ơi, thấy em khổ sở vì Lyndiol, Ménol, anh thương em lắm. Thiên hạ chúng nó lạy vợ để ra ứng cử tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, nghị viện và xã trưởng, anh không thể hèn hạ thế. Anh hiên ngang hơn chúng nó, nhân danh tình yêu vợ, anh lạy em cho anh đi thiến. Anh sẽ có "chứng chỉ thiến", một chứng chỉ bảo đảm quyết liệt cho sự nghiệp của anh nếu như, vô phúc thiếu âm đức, anh được nhà nước cử làm đại sứ tại một nước trung lập.

Nhà tôi, con rắn của Giê-hô-va, dù khôn ngoan cách mấy, cũng vẫn tưởng tôi tình nguyện thiến đến nơi rồi. Đàn bà tinh nhưng không ranh. Cho nên, cái thành ngữ "khôn ba năm dại một giờ" là cái thành ngữ thương xót đàn bà. Chỉ dùng cho đàn bà. Tôi vốn là kịch-sĩ-hài-hước-không-thèm-lên-sân-khấu. Bạn bè tôi đã nói rằng : thằng Nguyễn Văn Lương mà giễu, Tùng Lâm, Phi Thoàn, Khả Năng, Thanh Việt, Thanh Hoài sẽ thất nghiệp. Tôi cóc thích thiên hạ thất nghiệp. Bởi vì, tôi đã kéo dài nỗi buồn thất nghiệp sáu năm ròng rã.

Nếu hề Minh đã ai oán những câu vọng cổ: "Anh hai ơi, anh hỏi tôi năm nay được bao nhiêu vợ ? Tôi vội vàng lấy sổ ra coi. Từ năm hai mươi cho tới ba mươi, tôi có cả thảy là năm con vợ. Con vợ đầu tiên của tôi ở Cần Được con bà Tư bán mắm ruốc ở bên... ớ... ơ... ờ... ơ... đình... Tôi lấy nó năm mười tám, qua năm sau thì cái bụng nó chình ình..." Tôi có thể ai oán hơn khi diễn tả sáu năm thất nghiệp của tôi. Tôi đã thuộc lòng hàng trăm bài vọng cổ thu đĩa lải nhải tối ngày tại một quán cà phê ba Tầu trong ngõ tôi cư ngụ. Này là "Ngày mai đám cưới người ta, Tại sao san nữ Cà Pha lại ơ ớ ơ ờ ơ... buồn". Nọ là "Thằng Mễ Tây Cơ kia ơi tao là Ringo số dzách mày hãy coi tao rút xéng nổ ơ ớ ơ ờ ơ... đoàng". Về tân nhạc, tôi có hy vọng trở thành nhà... bới lông tìm vết đặc sắc. Tôi đã thưởng thức phước thiện hàng ngàn bản tân nhạc. Chẳng hạn, cái câu ví von "Khoai lùi bếp nóng ngon hơn là vàng" của ông Phạm Duy thì "pô ti nê", ít ra, cũng nửa trang báo lá cải. Nguyễn Du chơi chữ "Nay hoàng hôn lại ngày mai hôn hoàng" tuyệt cú mèo. Nhưng nhạc sĩ mà diễn tả "đường gập ghềnh đoàn xe đi trong ánh hôn hoàng" thì không ai ngửi nổi.

Ngoài cái sự thất nghiệp nghe cải lương, tân nhạc để bới lông tìm vết (Vì vô công rồi nghề. Nhàn cư vi bất thiện mờ lỵ), tôi còn có thể thuộc rất nhiều tên những danh tài "bun" tại vùng ngoại ô Hòa Hưng và biết rõ từng "dzơ" của họ. Công viên cư xá Chí Hòa có bao nhiêu "lối đi dưới lá", bao nhiêu ghế đá, bao nhiêu ngọn đèn, tôi đều biết. Nhà em Hồng Hảo số mấy, tiếng dương cầm buổi chiều khác tiếng dương cầm buổi trưa ra sao, tôi hiểu tường tận. Bà kỹ sư kia thua bạc nặng, phải "nhẩy dù" khiến ông kỹ sư mọc sừng rên siết hay con gái rượu của cụ công chức già, vì ham mê nghệ thuật nên phải ôm đàn ác coóc đê ông, thẩy thẩy, gã thất nghiệp có bổn phận phải biết. Dân thất nghiệp là dân biết rất nhiều, loại James Stewart, "l'homme qui en savait trop". Tôi nghĩ, ngoài khối óc tưởng tượng siêu việt của bậc thầy Vũ Trọng Phụng, những nhà phóng sự trào lộng, những tay viết "potin" hôm nay, phải là những người biết quá nhiều. Ngài đã đọc Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Đình Thiều, Dương Hùng Cường, Phan Nghị, Hồng Dương ? Ngài đã hỏi : tại sao họ biết nhiều thế ? Họ có những khối óc tưởng tượng.

Riêng tôi, học hành ngu dốt, đầu óc tối tăm, tôi không có chữ để đọc, không biết tưởng tượng. Bù vào đó, tôi thất nghiệp ròng rã sáu năm, nhờ trí nhớ tốt, tôi phăng phăng kể hiến quý vị những điều tôi đã biết. Thí dụ ngôi chùa Bửu Đà trong hẻm 418 đường Lê Văn Duyệt, Sàigòn. Thưở ấy, dĩ nhiên, chưa có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tôi kể lại chuyện chùa chiền nhất định, không phải với mục đích gì khác hơn mục đích... thất nghiệp của tôi. Chùa ta do một sư cụ từ Phan Thiết vô, sang lại của một vị sư cụ. Sàigòn có "chế độ" sang nhà rất ngoạn mục. Sang nhà được thì sang chùa cũng được. Trước ngày Giáo Hội Phật Giáo thành hình, quý vị sư Sàigòn chủ trương mỗi chùa một sư và bất động sản không thuộc quyền giáo hội. Gọi là tu tự do. Như làm thơ tự do vậy. Sư cụ nhà ta đang tu ngon lành. Mỗi cuối tháng dư cam táo, hương nến sai chú tiều đem phát mại. Bỗng từ căn nhà ông Tây lai nơi dân đánh "bun" thường tụ tập ngoài sân, biến thành cái chùa. Chùa Hòa Bình. Một sư cụ đã sang căn nhà của ông Tây lại để... mở chùa. Chùa Hòa Bình quyến rũ phật tử hơn chùa Bửu Đà. Thế là hai sư cụ gây chiến tranh lạnh. Kịp khi có đấu tranh chống Diệm, chùa Hòa Bình chống hăng, chùa Bửu Đà im lặng. Bửu Đà hóa ra Cổ Sơn Môn! Chẳng biết đến nay hai chùa đã thống nhất chưa ?

Tôi còn hiên ngang kể thêm thật đông chuyện thất nghiệp của tôi. Đề chứng minh rằng tôi sợ thất nghiệp. Sợ và cóc thích để những ai thất nghiệp trên cõi đời này. E-vơ, vợ tôi, thấy tôi thương vợ đến cái độ xung phong thiến thì cảm động lắm. Nàng quên khuấy mất câu tư tưởng bạc tỷ : "Mỗi thằng đàn ông là một thằng đánh lừa đàn bà, mỗi thằng chồng đều biết nói dối vợ." Báo chí, hàng ngày đăng lai rai Sở Khanh quất ngựa truy phong. Dư luận kết án bọn đàn ông kịch liệt. Đàn bà đá đít đàn ông thì được tha thứ bằng hai câu ca dao :

"Bắc thang lên hỏi ông giời,

Đem tiền cho gái có đòi được chăng ?"

Ôi, đàn bà, đàn bà nhất, "năm bờ oăn", Đàn bà chẳng có gì để mất. Đàn bà sướng nhé ! Thỉnh thoảng, có bị chồng đánh lừa, nói dối, đừng có mè nheo.

- Này anh...

- Gì ?

- Còn nhiều giải pháp... cai đẻ !

- Thí dụ ?

- Lắp cái vòng xoắn !

- Vòng xoắn à ?

- Ừ, vòng xoắn.

- Nhỡ nó xoắn "cái ấy" của anh thì sao !

- Nhảm !

- Ở đâu "gắn" vòng xoắn !

- Bác sĩ.

- Đàn ông hay đàn bà ? Anh cóc thích một thằng bác sĩ nào nhòm "con cua" của anh. Anh độc quyền "con cua" và chỉ bằng lòng công cộng hóa "con cò".

- Anh định.., ngoại tình hả ?

- Không, anh chỉ muốn đại chúng hóa "con cò".

- Vậy tôi độc quyền "con cò".

- Đó chính là giải pháp anh mong muốn. Giải pháp thiến!

- Không ổn.

- Nhưng anh không thích em "gắn" vòng xoắn, phản tự nhiên.

- Lyndiol, Ménol thì sao ?

- À, cái đó coi như đã tiêu hóa. Anh nghe nói nhiều bà đã bị ung thư... tử cung vì vòng xoắn. Không, nước bốn nghìn năm văn hiến không thể noi gương Ấn Độ ăn bốc. Đàn bà nước Nam phi thường. Hãy chứng tỏ cái truyền thống... vú dài của bà Triệu. Anh cương quyết thiến em ạ ! Tưởng tượng em bị ung thư "chỗ ấy", anh đau khổ lắm. Thương em hết chỗ thương, anh vẫn phải đại chúng hóa "con cò".

- Ung thư thật à ?

- Ừ

- Sao anh biết ?

- Đọc báo Y Học.

- Em mong anh được làm đại sứ.

- Thôi, bắt tội ông Bùi Diễm thất nghiệp.

- Thế tính sao bây giờ ?

- Còn một giải pháp.

- Gì ?

- Chích.

- Chích gì ?

- Chích thuốc cai đẻ.

E-vơ-nhà-tôi ôm chầm lấy A-đam-tôi mà đòi mớm táo. Khi đàn bà yêu, đàn bà không toan tính gì cả. Nhất là yêu chồng. Bởi vậy, thỉnh thoảng, con rắn đang ăn lòng heo tại gia, nổi hứng, ôm lấy rắn đực mà hôn thì, thưa ngài, rắn đực phải nhăn nhó như khi để nhận đón hương vị của mắm tôm trong hương vị tình yêu! Đàn ông tính toán kỹ hơn. Thưở tôi còn lêu bêu, chưa được lấy vợ, tôi đã làm hàng chục em gái thất vọng. Anh đến thăm em một chiều mưa, thấy em sầu mộng ngồi chồm hổm nhổ lông nách hay nặn trứng cá là anh nhớ đường, anh về liền. Anh muốn trời mưa mãi, Anh cóc ước mơ một chiều thêu nắng đâu. Lâu lâu mới gặp em, ôm em toan hôn gỡ một cái, thấy răng em dính sợi rau xanh lè, anh vội vàng đẩy em ngã ngửa. Và anh chạy như thể trốn lính mà gặp cảnh sắt đón đường xét giấy. Anh tưởng tượng đôi mắt nhung huyền, nhưng khi anh thấy đôi mắt nhung huyền của em có cục ghèn, anh phú lỉnh gấp. Mời em đi ăn, ra khỏi tiệm, thấy em vẫn ngậm tăm, anh lên xe dọt lẹ, mặc em ngẩn ngơ chẳng hiểu vì sao tình đang mặn hơn muối bỗng nhạt quá nước ốc. Vân vân...

Tôi chưa hề bị E-vơ nổi tình trong lúc đang say sưa ngốn lòng heo chấm mắm tôm. Thời gian nhà tôi và tôi bàn luận về thuốc chích cai đẻ, nàng đương thưởng thức sầu riêng, thứ trái cây tuyệt vời của miền Nam yêu dấu. Mười lăm năm rồi, tôi mới chỉ cảm nổi hương sầu riêng. Chưa lần nào tôi dám thử ăn. Nhà tôi, như tôi đã diễn tả, ôm chầm lấy tôi đòi mớm táo. Tôi quên béng mất rằng sầu riêng tô đầy môi nàng. Và tôi ói cả ra mật vàng. Than ôi, đàn ông, cái số kiếp của mi vất vả. Giê-hô-va đã bảo mi phải đồ máu mắt mới có cơm ăn. Mi lại còn mửa mật vàng chịu đựng vợ... yêu nữa ! Mi là cát bụi, mi sẽ trở về với cát bụi. Lạy Giê-hô-va vạn lạy, ngài cho con về cùng cát bụi ngay lập tức đi. Con khổ sở, khốn nạn vì chuyện đẻ của đàn bà. Giê-hô-va Chúa Trời cũ, ngài biết không ?

- Thuốc ấy ra sao hở, anh ?

- Ra... cai đẻ.

- Biết rồi.

- Biết rồi thì thôi.

- Thôi mà cưng, em xin lỗi.

- Cái sự kinh kệ sớm muộn của em đã làm anh mất ăn mất ngủ. Thổi hạt bụi vướng trong mắt em, anh cũng phải cầu khẩn tổ tiên phù hộ anh. Lấy cái mẩu thuỷ tinh li ti xuyên qua gót chân em, anh cũng phải lạy trời, cho anh thành công. Đi lấy áo dài cho em, anh cũng phải vái Phật để tiệm may đúng hẹn. Rồi hôn em, anh bị... đầu độc bởi sầu riêng!

- Anh...

- Cô muốn gì ?

- À, anh dở chứng, anh sinh sự đấy nhé !

- Đâu dám, em ơi !

- Tôi yêu cầu anh nói về thuốc chích cai đẻ.

- Anh nói liền.

- Nói lẹ đi.

- Nói đây : Chích vào mông, ba tháng một mũi.

- Vào lúc nào ?

- Sau ngày hạ cờ Cộng sản.

- Bảo đảm chứ ?

- Trăm phần trăm.

- Tên thuốc ?

- Anh viết ra đây cho em. Đọc xong đốt liền kẻo mang tội tuyên truyền... tội lỗi.

- Cai đẻ đâu phải là tội lỗi.

- Ờ, vậy mà các cụ cố đạo hội thảo chống cai đẻ ầm ỹ.

- Các cụ ấy có đẻ đâu mà biết nỗi đau đẻ. Chúa không cấm cai đẻ. Mười điều giới răn có nói gì về cai đẻ bao giờ ?

- Đồng ý. Nhưng anh nói thầm tên thuốc chích với em là đủ.

Nhà tôi, E-vơ, con rắn độc của Giê-hô-va Chúa trời cũ, sau khi phiêu lưu trên bước đường Lyndiol, Ménol, chê bỏ vòng xoắn, đã phiêu lưu thêm... thuốc chích cai đẻ. Lạy Chúa, lạy Phật, xin phù hộ con, phù hộ cái số kiếp hẩm hiu của đàn ông.


- Anh ạ!

- Gì đó em ?

- Mới chích mười ngày mà nó đã ra...

- Thế à ?

- Dạ.

- Chắc thuốc lạ đấy. Rồi nó sẽ chơi thân với trứng. Và nó tìm cách hạ bất cứ kẻ nào dám đòi trung lập mí ly... của anh.

Tôi an ủi nhà tôi. Mà chính là để trấn an mình. Tôi đã nhìn rõ nỗi... sầu riêng của mình. Bèn âm thầm đi hỏi đốc tờ. Anh đốc quen thuộc bảo đảm không sao cả. Chích thuốc đỡ tai nạn quên, song, thỉnh thoảng, cờ Cộng sản phấp phới bay. Bay nửa ngày. Để cổ võ chủ nghĩa xã hội, đôi khi, cờ bay trong quần hai ba ngày. Không xác định rõ thời gian kéo cờ. Tôi về nói tường tận cho nhà tôi hay. Nàng cằn nhằn :

- Tốn "xẹc vi ét" thấy mồ !

- Mà đỡ bị đẻ.

- Em sẽ mất hết máu. Đề yên người ta đặt vòng xoắn cho xong.

- Tại sao em can ngăn anh thiến ?

Hai vợ chồng nhìn nhau. Tôi nghĩ, trong đời nếu có phút cảm động thì phút cảm động đó, nhất định phải là phút thương yêu mà không nói nổi những lời thương yêu. Nhà tôi chớp mắt. Một nỗi xót xa gặm nhắm linh hồn tôi. Chưa từng có thời đại nào con người lo sợ đủ thứ như thời đại này. Lo sợ chiến tranh. Lo sợ đói khát. Lo sợ tình yêu. Lo sợ đẻ.

Cái hạnh phúc có truyền thống của bất cứ một gia đình Việt Nam nào cũng là hạnh phúc con cháu đầy đàn. Hạnh phúc đó bị đe dọa. Rồi mất đi kề tự thưở bom đạn nhập cảng cùng với đói rách, bệnh tật. Tìm đâu ra một sớm cuối năm, bố mẹ già ngồi đoán con dâu, con rễ, cháu nội, cháu ngoại, con đẻ, con nuôi về quê ăn tết vào đúng mấy giờ ? Tìm đâu ra một cụ già chưa quá sáu mươi, mừng tuổi cho hàng trăm cháu nội, ngoại ngày đầu năm ? Tương lai của chính mình, mình nhìn rõ nó đen tối, bấp bênh, ai thiết nghĩ tương lai con cháu. Nhà tôi, như mọi người mẹ quê hương, đã mong đông con trai, gái. Nhưng sự mong ước tàn lụi vì hoàn cảnh. Không dám đẻ song lại sợ không có con nữa thì nguy. Nên nàng ngăn tôi thiến. Tôi buồn rầu nói :

- Chích một lần thôi. Sẽ không dùng Lyndiol, Ménol, vòng xoắn. Ngay cả thứ "phó mát" cai đẻ tối tân của Nhật cũng chẳng thèm biết đến. Em sẽ tiếp tục đẻ. Đừng sợ, anh đã kiếm được một giải pháp thần sầu. Em ngại đẻ con không người nuôi chứ gì ? Chúng mình sẽ có, ít nhất hai em ma-ri-sến thường trực trong thời buổi "nhất sến, nhì xi, tam sư, tứ cố" này. Em bằng lòng chứ ?

- Tùy anh. Em sợ cai đẻ rồi. Thuốc cai đẻ làm em héo hon.

- Vậy cần đẻ. Nếu cai đẻ là chống Cộng thì đẻ sẽ là... đón gió trung lập. Lập trường của vợ chồng mình đã thay đổi

Nhà tôi ôm ghì tôi. Như thường lệ, ngọn đèn trong phòng tắt ngóm. Chúng tôi đã "nhé" thật kỹ. "Nhé" và không sợ có con. "Nhé" với tinh thần dân tộc, với cảm hứng thật của con người.
Đọc tiếp nơi đây