Thời định cư, lập nghiệp của người miền Nam và cuộc di cư miền Bắc vào Nam đã tạo ra một xã hội chưa ổn định và những hoạt động ngầm đâu đó dưạ vào những tay anh chị.
Họ được mượn tiếng, mượn danh và rồi họ cũng bỏ mạng cho những lời hứa hảo huyền, vẫn luôn mong mình có một giải pháp tốt đẹp hơn, nhưng hình như xã hội không bao giờ cho họ có cơ hội.
Dù tốt hay xấu, câu chuyện của họ vẫn còn lưu truyền cho những ai có cảm hứng muốn nghe lại những câu chuyện cũ về miền đất tự do với những người vang tiếng một thời.
Kính gửi quý anh chị bài trên net chuyện những nhân vật không còn nữa.
Caroline Thanh Hương
Huyền
thoại giang hồ Sài Gòn
Nguyễn
Chính
- Hai chữ “Giang Hồ” gần đây được nhắc tới trên cộng đồng mạng, đó là đề tài thời sự nóng hổi... Bài viết dưới đây chỉ nói về giới giang hồ của “Sài Gòn xưa”, trong một cuốn sách đã được xuất bản tại Hoa Kỳ: “Hồi ức Sài Gòn”. Qua bài viết này, người đọc có thể nhìn “giang hồ” qua hai lăng kính Xưa và Nay.
***
Giang hồ,
theo một số học giả, có chiết tự từ tên con sông Tam Giang và hồ nước Ngũ Hồ
bên Tàu. Đây là những địa danh có nhiều người đến ngao du, ngoạn cảnh. Thế
nhưng, khi nói đến dân giang hồ người ta liên tưởng ngay đến những tay
anh chị ‘lục lâm thảo khấu’, ‘đầu trộm đuôi cướp’, ‘đâm thuê chém mướn’ hay nói
theo từ vựng của thời nay là ‘xã hội đen’.
Thế giới
ngầm thường chứa đựng nhiều huyền thoại vì người ta thường thêm thắt những chi
tiết không có thực để tô điểm về cuộc đời của các ‘anh hùng hảo hán’. Trong bài
viết này, tác giả giới thiệu 3 loại giang hồ điển hình của Sài Gòn xưa: giang hồ
trí thức, giang hồ lục lâm và giang hồ anh chị.
Giang hồ
trí thức: Sơn Vương Trương Văn Thoại
Nhân vật
‘giang hồ - trí thức’ nổi tiếng ở miền Nam, thập niên 30, là Sơn Vương Trương
Văn Thoại với thành tích 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo.
Ngoài việc nổi tiếng là một tên cướp ‘trọng nghĩa’ và ‘hào hoa’, Sơn Vương còn
là một nhà văn được nhiều người đọc hâm mộ.
Ở vào tuổi
thanh niên, Trương Văn Thoại vùi đầu vào sách, từ loại kiếm hiệp Tàu và tiểu
thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến
Carmen của Merimée. Đặc biệt, Trương Văn Thoại cực kỳ say mê nhân vật trong tiểu
thuyết của nhà văn Phú Đức: Bách-xi-ma lái ... ‘khúc dồi’ phóng như bay đuổi
theo Hoàng Ngọc Ẩn đang cưỡi trên ... Điếu Xì Gà.
Cuối năm
1925, mới hơn 16 tuổi, Trương Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng theo tiếng gọi… giang
hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra hơn 6 năm trời lăn lộn khắp vùng núi
Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào ở Long Hải, Bà Rịa, để theo một đại lão
sư, mai danh ẩn tích nhằm học võ và học đạo.
Năm 1931,
Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền. Những năm đầu thập
kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người.
Từ các thầy bói, kính đen che mắt, đến các văn nhân, chủ báo cũng có mặt tại
đây. Trong số những người làm báo, Trương Văn Thoại làm quen với Nguyễn An
Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè). Cảm phục ý chí và sự
nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút,
trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée.
Sơn Vương
Trương Văn Thoại
Theo Hán
tự, chữ "Thoại" được ghép bởi 3 chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn
Vương được Thoại khai sinh từ đó. Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi
danh trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ,
đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với tầng lớp bần cùng.
Có thể
xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu
thuyết Việt Nam thời đó. Ông chuyên viết ‘tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình’
nhưng tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật
‘tướng cướp nghĩa hiệp’ cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã
đoạn tuyệt hẳn với hình tượng ‘thanh gươm lưng ngựa’ thời trước. Thay
vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và
ném tạc đạn như đồ chơi. Đáng kể nhất là 3 tác phẩm của Sơn Vương: Luật rừng
xanh,
Chén cơm lạt và Tướng cướp hào hoa.
Sách về
Sơn Vương
Trong hơn
hai năm (1931-1933), Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp
kinh thiên động địa nhắm vào các phú hộ khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn,
Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn
Vương - nhà văn - cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi
sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính
mình.
Con mồi lớn
nhất của Sơn Vương là René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot. Sau một thời
gian theo dõi, Sơn Vương biết rõ hàng tháng Gaillard cùng một tài xế và một vệ
sĩ trên chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh tiền về phát lương cho
công nhân. Số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe
cướp vali tiền với một… khẩu súng giả!
Vụ cướp
táo tợn được đồn khắp Sài Gòn chỉ một ngày sau. Dân nghèo được một phen hả dạ,
bởi kẻ bị trừng trị là một ‘Tây thực dân’ khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài
Gòn - Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả của vụ cướp - dù chẳng biết là ai - bạo
gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa mất mặt.
Giới
giang hồ Nam kỳ nói chung có màu sắc nghĩa hiệp, là một đặc tính của người dân
‘đàng trong’, trọng danh dự và nhân nghĩa. Với Sơn Vương, chuyến ‘đi hát’ đó (một
từ lóng chỉ chuyện cướp bóc của giới giang hồ) lại là tai hoạ và cũng là vụ cướp
cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.
Kẻ bị cướp
- René Gaillard - vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse.
Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, dòng máu đảo
Corse vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền, Gaillard tuyên bố: Thưởng
5.000 đồng bạc Đông Dương - một phần mười số tiền bị cướp - cho bất cứ ai tìm
ra tung tích thủ phạm.
Bazin -
tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này - đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y
xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được
món tiền 5.000 đồng mà Gaillard đã rêu rao. Vốn là cáo già, Bazin rất quan tâm
đến những chi tiết vụ cướp. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément
Bayard chặn đường cướp tiền của Gaillard cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc
(xe hơi hiệu Clément Bayard được sản xuất từ Pháp từ năm 1903 đến 1922).
Xe hơi hiệu
Clément Bayard
Bazin
liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm ‘ăng kết’.
Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường (chủ nhân chiếc xe đã cho Sơn Vương mượn để
‘đi hát’) biết chắc sẽ bị bại lộ nên vội ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được
chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Một tháng sau, Sơn Vương bị
toà tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.
Tháng
7/1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả
về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù
nhân đập phá khám khiến chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú
Quốc.
Từ Phú Quốc
trở về, chỉ một năm sau, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này ông bị bắt vì một
lý do… lãng xẹc. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương
bị một gã hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy
vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau, ngã chỏng
gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là ... sếp mật thám của bót Polo trong Chợ Lớn.
Ra toà,
Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại trại Pursat (Cao Miên).
Sơn Vương trốn trại và tìm đường qua Thái Lan nhưng không lâu sau, ông lại bị bắt
khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục,
bị tống vào phòng 17, bót Catinat. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ
hai.
Trong thời
gian ở Côn Đảo, Sơn Vương giết một ‘ăng ten’ trong số tù nhân. Với tội mới, Sơn
Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo quy định, án chung
thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm
1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và 2 án chung thân khổ sai (32 năm). Tính ra ông phải
nhận mức án những 79 năm tù ...
Năm 1984,
Sơn Vương trở lại quê nhà ở Gò Công và mất tại đó vào năm 1987, chấm dứt một cuộc
đời ‘trí thức giang hồ’.
Nhà tù
Côn Đảo ngày nay
Giang hồ
thảo khấu: Bình Xuyên
Đến thập
niên 50, nổi bật trong giới giang hồ có lực lượng Bình Xuyên, nguyên thủy là
tên của ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng, Nhà Bè. Sau năm 1945, danh xưng
Bình Xuyên được dùng để chỉ Lực lượng Bình Xuyên với nòng cốt là dân giang hồ
miền Nam, hoạt động ở vùng ven Sài Gòn trong suốt 10 năm, từ 1945 đến 1955.
Từ năm
1948, Bình Xuyên là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp
dưới danh xưng công an xung phong, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài
Gòn. Với sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ,
cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn - Chợ Lớn trong đó phải kể đến
Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d'Or (Kim Chung), Bách hóa
Noveautes Catinat.
Lê Văn Viễn
(tức Bảy Viễn) là người chỉ huy Bình Xuyên, hợp tác với Bảo Đại để thành lập
chính quyền Quốc gia Việt Nam. Thành phần này là lực lượng Bình Xuyên được biết
đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Sau Hiệp định Genève (1954), Bình Xuyên đúng
ra phải nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng lại không tòng phục.
Lê Văn Viễn
sinh năm 1904 tại xã Phong Đước, quận Cần Giuộc, Chợ Lớn, thuộc gia đình điền
chủ. Bảy Viễn học hết trường làng đến lớp ba thì bỏ nhà đi lưu lạc giang hồ.
Trong thời gian khoảng 10 năm, Bảy Viễn học võ ở nhiều nơi. Sau đó Bảy Viễn
xưng anh chị tại trường đua Phú Thọ, tập hợp được một số du đãng em út. Vùng hoạt
động của nhóm Bảy Viễn bấy giờ là Chợ Thiếc, An Bình, Cù lao Chánh Hưng và xóm
Phạm Thế Hiển từ cầu Hiệp Ân đổ xuống cầu Chữ Y.
Sách về Bảy
Viễn
Với tiền
đánh cướp ở các chợ vùng ngoại ô như Cần Giuộc, Nhà Bè, Giồng Ông Tố, Bảy Viễn
sắm xe lô-ca-xông cho thuê, đôi khi còn dùng các xe này để đi ăn cướp. Bảy Viễn
cũng chịu ảnh hưởng nặng loại tiểu thuyết ‘ăn cướp, bắn súng, lái xe đua’
như Bách-si-ma, Hoàng Ngọc Ẩn của nhà văn Phú Đức nổi tiếng thời bấy giờ. Ăn mặc
đúng thời trang, Bảy Viễn lái xe tới những tiệm vàng ở các chợ quận, mua cả bụm
vàng rồi để lại một băng đạn trước khi lên xe vọt mất.
Tháng
7/1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính, thành lập chính phủ trung ương và nộp
danh sách nội các. Lê Văn Viễn đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính
phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt
trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có
danh sách mới trước ngày 26/3/1955.
Ngô Đình
Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi
pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4/1955, quân Bình Xuyên đánh thành Cộng
Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực
cầu Chữ Y, lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn - Chợ Lớn và rút
về Rừng Sát.
Cuộc chiến
giữa quân chính phủ và Bình Xuyên trên đường phố Sài Gòn
Bảy Viễn
bị bắt với 17 tiền án ăn cướp có súng, bị kêu án 15 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo.
Mười lăm ngày sau, Bảy Viễn vượt ngục bằng bè và được thuyền đánh cá vớt. Một
năm sau hắn lại bị bắt đưa ra Côn Đảo. Hai tháng sau hắn lại trốn về đất liền.
Nhà tù Côn Đảo mở cuộc điều tra tìm hiểu vì sao Bảy Viễn trốn quá dễ dàng như vậy.
Nguyên do là Bảy Viễn có tay em ngoài đảo sẵn sàng giúp ‘đại ca’ đóng bè làm buồm,
tiếp tế cơm khô, nước ngọt. Một số thầy chú cũng ngán Bảy Viễn nên cố tình nhắm
mắt làm ngơ.
Tháng
9/1955 Ngô Đình Diệm phái đại tá Dương Văn Minh (Big Minh) mở Chiến dịch Hoàng
Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê
Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của
Bình Xuyên.
Giang hồ
anh chị: Đại Cathay
Đến thập
niên 60, nổi bật nhất trong giới giang hồ có Đại Cathay. Người ta nói nhiều về
một Đại Cathay, với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ ‘đờ-mi-bốt’, trên
môi không rời điều thuốc và chiếc hộp quyẹt Zippo... Những gì mà Đại Cathay đã
tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt và đã trở thành…
huyền thoại. Đối với Đại Cathay, sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối
sống ‘giang hồ tình nghĩa’.
Đại sinh
năm 1940, con của Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ
Cầu Muối. Khi còn nhỏ Đại sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay
là đường Đoàn Văn Bơ, Quận 4). Cả cha lẫn mẹ đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê
cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh Chợ Cũ, Quận 1.
Cầu Khánh
Hội (phía trước) và Cầu Mống (phía sau)
Đại thường
xuyên trốn học và chơi với đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói,
dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất ‘lì đòn’. Những đức tính được
‘thừa kế’ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10
tuổi, ‘thủ lĩnh’ Đại đã thường xuyên luồn lách vào các chợ ăn trộm dưa, chuối về
chia cho chúng bạn.
Đại bỏ học,
sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh
ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ gần rạp xi-nê
Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành
khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại lăn xả vào đối thủ, liên tục
tấn công, dù kẻ đó có cao hơn, to hơn.
Trăm lần
như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy thương tích. Nghiễm
nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực.
Cũng vì thế, gã đã ráp thêm ‘tên địa bàn hoạt động’ vào sau tên cúng cơm để trở
thành Đại Cathay, một đại ca hùng cứ trên đường Nguyễn Công Trứ. Đó là
năm 1954, lúc Đại mới 14 tuổi.
Rạp hát
Cathay ngày xưa
Trở thành
‘anh chị’, Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng
thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em ‘đi làm’ mang tiền về nộp. Được
cái, hắn rất hào phóng. Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho
mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Vì vậy, đàn em rất
khoái và chịu nghe lời "anh Đại". Ở đây ta thấy giới giang hồ miền
Nam rất trọng ‘đạo nghĩa’ và ‘công bằng’ dù trình độ văn hóa của họ rất thấp.
Nằm ngay
cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót
Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các
khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại
Cathay đã bị xách tai lôi về bót. Cuối cùng, cảnh sát tống Đại Cathay vào trại
tế bần ở Thủ Đức. Sau nhiều lần vào trại rồi trốn ra khỏi tế bần, Đại Cathay
càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, và càng lao đầu vào những trận thư hùng.
Năm 1955,
Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực hãng phân Khánh Hội, cạnh Nhà máy
thuốc lá Bastos. Đám giang hồ khu vực này ‘nghênh đón’ Đại Cathay khá nồng nhiệt
bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng.
Toàn bộ khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân giang hồ ở bến tàu,
vựa cá, vựa rau cải đều quy phục dưới trướng của Đại Cathay.
Hãng thuốc
lá Bastos (Khánh Hội)
Đầu những
năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập Sài Gòn. Đại
Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí giả trong khoản ăn
chơi. Đám nghệ sĩ, trí thức cũng nể Đại Cathay vì tính chịu chơi và khoái vẻ
ngang tàng, bụi bặm của gã.
Nguồn lợi
lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế ‘bảo kê’. Chính
giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi
quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật
trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (vua kẽm gai),
Xí Ngàn ‘mặt rỗ’ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông
vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại.
Cũng nhờ uy thế của các ‘vua’, Đại Cathay cũng làm quen và "chơi chịu"
với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.
Sài Gòn
thập niên 60 nổi tiếng có ‘tứ đại giang hồ’ gồm Đại Cathay, Huỳnh Tỳ,
Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế. Cả miền Nam đều biết tiếng ‘tứ nhân bang’, nhất
là sau khi cuốn tiểu thuyết Điệu ru nước mắt của nhà văn Duyên Anh ra đời.
Sau một trận hỗn chiến giữa ‘tứ đại giang hồ’, Đại Cathay lên đứng đầu nhóm và
một trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã đưa Đại
Cathay lên ngôi ‘bang chủ’ trong một đế chế mà khắp Sài Gòn – Chợ Lớn chẳng có
một băng nhóm nào dám đối đầu.
Cả một bộ
máy quân sự khổng lồ của miền Nam dưới thời Nguyễn Cao Kỳ hình như cũng phải
‘xuống nước’. Tướng ‘Sáu Lèo’ Nguyễn Ngọc Loan (khi đó nắm quyền chỉ huy lực lượng
cảnh sát) ngỏ ý mời Đại Cathay về làm đại úy cảnh sát để ‘dĩ độc trị độc’. Đại
Cathay thẳng thừng từ chối:
“Tôi
xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời,
du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt”.
Tướng
Nguyễn Ngọc Loan và Đại Cathay
Đại và cả
đám đàn em bị tống ra Trung tâm hướng nghiệp tại đảo Phú Quốc, hay còn gọi
là ‘Trại Cửu Sừng’. Đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày
thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Thiếu tướng
Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức,
thượng tôn luật pháp”.
Người vợ
cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay, là cô Nhân, con gái
chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn
Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng
loại ‘tù không án’ như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền
ra tìm cách cứu Đại Cathay.
Khi biết
cô Nhân đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Tướng Nguyễn Ngọc
Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh
Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác
mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn riêng Đại Cathay được cố tình cho đào
thoát vào núi Tượng.
Sau đó,
tướng Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được
trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại. Trần Tử Thanh sau này đã từng khoe
với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay mình
đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.
Trên đây
chỉ là lời đồn đại, ‘đoán non đoán già’ về ngày tàn của Đại Cathay. Huyền thoại
về cuộc đời và cái chết của Đại Cathay vẫn có nhiều chi tiết chưa được làm rõ về
một tên ‘giang hồ ngoại hạng’.
***
Chuyện của
giới giang hồ miền Nam là một kho tàng vô tận, chuyện thật cũng có, người đời
thêu dệt thành huyền thoại cũng không ít. Chẳng hạn như cuộc đời các tướng cướp
Bạch Hải Đường, Điền Khắc Kim, những tay anh chị như Tín Mã Nàm và gần đây nhất
là ông trùm Năm Cam…
Thế giới
của họ là ‘thế giới ngầm’ mà người thường không thể dễ dàng tiếp cận và đó cũng
là lý do khiến người đời ‘thêm mắm thêm muối’ để trở thành huyền thoại. Tuy
nhiên, vẫn có một sự thật và muôn đời vẫn là sự thật:
“Chơi
dao sẽ có ngày đứt tay”.
NguyenDacSongPhuong
H21( lượm trên Internet)
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire